Bài giảng Tiếng Việt: Phong cách ngôn ngữ chính luận

Tìm hiểu khái niệm

a) Nghị luận

 

- Nghị : bàn bạc để phân định đúng - sai

- Luận : bàn để phân định phải – trái, nên – không nên

 Nghị luận (hiểu rộng ra) là trình bày ý kiến, lí lẽ, lập luận về một vấn đề, hiện tượng, nhằm đưa người đọc/nghe đến một chân lí, chính kiến nào đó.

Đây là một thao tác tư duy.

 

Nghị luận có có nhiều loại : nghị luận xã hội, nghị luận văn chương, nghị luận khoa học trong đó có nghị luận chính trị, gọi tắt là chính luận

 

ppt29 trang | Chia sẻ: oanh_nt | Ngày: 11/01/2014 | Lượt xem: 6122 | Lượt tải: 9download
Tóm tắt nội dung Bài giảng Tiếng Việt: Phong cách ngôn ngữ chính luận, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Chào mừng Quý Thầy Cô giáo và các em học sinh đến với bài học “Phong cách ngôn ngữ chính luận” Tiếng Việt PHONG CÁCH NGÔN NGỮ CHÍNH LUẬN Người dạy : PHẠM TuẤN VŨ SV Sư phạm Ngữ văn K32 ĐH Quy Nhơn GV hướng dẫn : NHỮ THỊ HOÀNG NGA Trường : Quốc Học Quy Nhơn Hình ảnh một số tác phẩm chính luận 1. “Chiếu dời đô” (Thiên đô chiếu) của Lý Công Uẩn Hình ảnh một số tác phẩm chính luận 2. “Hịch Tướng Sỹ” của Trần Hưng Đạo Hình ảnh một số tác phẩm chính luận 3. “Bình Ngô Đại Cáo” của Nguyễn Trãi Bản Dịch bằng chữ quốc ngữ tác phẩm “Chiếu cầu hiền” (Cầu hiền chiếu) của Ngô Thì Nhậm “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” (Hiền tài Quốc gia chi nguyên khí) của Thân Nhân Trung Hình ảnh một số tác phẩm chính luận 4. “Tuyên ngôn độc lập” của Hồ Chí Minh Hình ảnh một số tác phẩm chính luận “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của Hồ Chủ tịch Phan Châu Trinh, tác giả của tác phẩm “Đạo đức và luân lí Đông Tây”, trong đó có đoạn trích “Về luân lí xã hội ở nước ta” Nguyễn An Ninh, tác giả của “Tiếng mẹ đẻ - Nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức” Văn bản chính luận và ngôn ngữ chính luận Tìm hiểu khái niệm a) Nghị luận - Nghị 議 : bàn bạc để phân định đúng - sai - Luận 論 : bàn để phân định phải – trái, nên – không nên  Nghị luận (hiểu rộng ra) là trình bày ý kiến, lí lẽ, lập luận về một vấn đề, hiện tượng, nhằm đưa người đọc/nghe đến một chân lí, chính kiến nào đó. Đây là một thao tác tư duy. Nghị luận có có nhiều loại : nghị luận xã hội, nghị luận văn chương, nghị luận khoa học… trong đó có nghị luận chính trị, gọi tắt là chính luận I. Văn bản chính luận và ngôn ngữ chính luận 1. Tìm hiểu khái niệm b) Chính luận -Chính : chính trị - Luận : nghị luận  Chính luận (nghị luận về chính trị) là một phong cách ngôn ngữ mà ở đó, người viết/nói đưa ra lí lẽ, lập luận về một vấn đề chính trị nào đó nhằm trình bày quan điểm chính trị của mình. Văn bản chính luận và ngôn ngữ chính luận 1. Tìm hiểu khái niệm c) Ngôn ngữ chính luận -- Là lớp ngôn ngữ chủ yếu được dùng trong các văn bản chính luận, phân biệt với các lớp ngôn ngữ sinh hoạt, hành chính, nghệ thuật…, có màu sắc tu từ và hiệu quả riêng. d) Phong cách ngôn ngữ chính luận - Là những đặc trưng được khái quát từ đặc điểm sử dụng ngôn ngữ chính luận. I. Văn bản chính luận và ngôn ngữ chính luận 2. Văn bản chính luận Câu hỏi : Kể tên những thể loại chính luận thời trung đại và thời hiện đại mà các em đã được học hoặc đã biết ? b) Hai dạng tồn tại của văn bản chính luận là gì ? Cho ví dụ ? Các thể loại chính luận : + Thời trung đại : cáo, hịch, chiếu, biểu… + Thời hiện đại : cương lĩnh, tuyên ngôn, tuyên bố, lời kêu gọi, hiệu triệu, xã luận, bình luận, tham luận… - Hai dạng tồn tại : + Dạng viết (vd : bản tuyên ngôn, bài tham luận…) + Dạng nói (vd : bài xã luận được đọc trên sóng phát thanh, bài tham luận phát biểu đọc trong hội nghị…) I. Văn bản chính luận và ngôn ngữ chính luận 3. Ngôn ngữ chính luận Yêu cầu 1 : Đọc ba đoạn trích trong SGK - Tuyên ngôn - Bình luận thời sự - Xã luận Yêu cầu 2 : Tìm hiểu ba vấn đề sau trong từng đoạn trích - Thể loại của văn bản - Mục đích viết văn bản - Thái độ, quan điểm của người viết với những vấn đề được đề cập đến. Tuyên ngôn : TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được ; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.” Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là : tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do. Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng có nói : “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi.” Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được. […] (Hồ Chí Minh) Nhận xét : Thể loại : Tuyên ngôn. Mục đích : Khẳng định quyền tự do và bình đẳng của cá nhân, suy rộng ra là quyền của các dân tộc. - Thái độ, quan điểm của người viết : Dứt khoát, mạnh mẽ, kiên định trên lập trường cách mạng. Bình luận thời sự : CAO TRÀO CHỐNG NHẬT, CỨU NƯỚC Ngày 9 -3 – 1945, ở Đông Dương, phát xít Nhật quật thực dân Pháp xuống chân đài chính trị. Không đầy hai mươi bốn tiếng đồng hồ, trong các thành phố lớn, thực dân Pháp đều hạ súng xin hàng. Nhiều đội quân của Pháp nhằm biên giới cắm đầu chạy. Riêng ở Cao Bằng và Bắc Cạn, một vài đội quân của Pháp định thống nhất hành động với Quân Giải phóng Việt Nam chống Nhật. Ở Bắc Cạn, họ đã cùng ta tổ chức “Ủy ban Pháp – Việt chống Nhật”. Nhưng không bao lâu, họ cũng bỏ ta chạy sang Trung Quốc. Có thể nói là quân Pháp ở Đông Dương đã không kháng chiến và công cuộc kháng chiến ở Đông Dương là công cuộc duy nhất của nhân dân ta. […] (Trường Chinh, Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam, tập 1, NXB Sự thật, 1976) Nhận xét : Thể loại : Bình luận thời sự. Mục đích : Bình luận về hành động và thái độ của thực dân Pháp ở Đông Dương để từ đó, khẳng định cao trào chống phát xít Nhật ở Đông Dương là công cuộc duy nhất của nhân dân ta. - Thái độ, quan điểm của người viết : Dứt khoát, đanh thép, kiên định trên lập trường dân tộc. Xã luận : ViỆT NAM ĐI TỚI Khắp non sông Việt Nam đang bừng dậy một sinh khí mới. Sinh khí ấy đang biểu hiện trên khuôn mặt từng người dân, trong từng thôn bản, ngõ phố, trên từng cánh đồng, công trường, trong từng viện nghiên cứu, trên các chốt tiền tiêu đầu sóng ngọn gió,… Rạo rực đất trời, rạo rực lòng người ! […] Đất nước đang căng tràn sức xuân trong ý chí và khát vọng vươn tới của 80 triệu người con đất Việt. Nguồn sinh lực mới được kết tụ và nhân lên trong xuân Giáp Thân đang hứa hẹn tạo ra một sức băng lướt mới trên con đường dài xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Xuân mới, thế và lực mới, chúng ta tự tin đi tới ! (Theo báo Quân đội nhân dân, số Tết 2004) Nhận xét : Thể loại : Xã luận. Mục đích : Khẳng định tư thế tự tin đi tới trong sức xuân căng tràn, trong ý chí và khát vọng vươn tới của nhân dân Việt Nam. - Thái độ, quan điểm của người viết : Hào hứng, sôi nổi, đầy niềm tin tưởng, lạc quan. Nhận xét chung về ngôn ngữ chính luận Dạng thức tồn tại : nói hoặc viết Mục đích : trình bày ý kiến hoặc bình luận, đánh giá một sự kiện, một vấn đề chính trị, một chính sách, chủ trương về văn hóa, xã hội theo một quan điểm chính trị nhất định. Phạm vi sử dụng : trong phạm vi trình bày quan điểm chính trị đối với một vấn đề nào đó. Sự ảnh hưởng : ảnh hưởng sâu rộng trong ngôn ngữ hằng ngày và ngôn ngữ văn học. Ghi nhớ Ngôn ngữ chính luận là ngôn ngữ được dùng trong các văn bản chính luận hoặc lời nói miệng (khẩu ngữ) trong các buổi hội nghị, hội thảo, nói chuyện thời sự,… nhằm trình bày, bình luận, đánh giá những sự kiện, những vấn đề về chính trị, xã hội, văn hóa, tư tưởng,… theo một quan điểm chính trị nhất định. II. Luyện tập Bài tập 1 : Phân biệt khái niệm nghị luận và chính luận ? Gợi ý trả lời : Mục đích của mỗi loại là gì ? Phạm vi vấn đề được đề cập của chúng ? Quan hệ giữa hai khái niệm này là gì ? (Bình đẳng, giao nhau, trùng nhau hay bao hàm,…?) Trả lời - Mục đích : + Văn bản nghị luận : Đưa ra ý kiến, lí lẽ, lập luận nhằm thuyết phục người đọc/nghe về một vấn đề nào đó theo quan điểm của mình + Văn bản chính luận : Đưa ra ý kiến, lí lẽ, lập luận nhằm thuyết phục người đọc/nghe về một vấn đề chính trị nào đó theo quan điểm chính trị của mình. - Phạm vi vấn đề : + Nghị luận : tất cả mọi lĩnh vực (xã hội, khoa học, lịch sử, chính trị, văn chương,…)  Rộng. + Chính luận : thu hẹp trong phạm vi trình bày một quan điểm chính trị nào đó. - Quan hệ giữa hai khái niệm : Chính luận là một thể loại nhỏ của nghị luận (nghị luận gồm : nghị luận xã hội, nghị luận khoa học, nghị luận văn học, nghị luận chính trị tức chính luận,…)  Quan hệ bao hàm (nghị luận chứa chính luận). Bài tập 2 : Vì sao có thể khẳng định đoạn trích dưới đây thuộc phong cách chính luận ? Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của dân ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước. (Hồ Chí Minh, Tinh thấn yêu nước của nhân dân ta) Gợi ý trả lời : - Nội dung chính của đoạn văn là gì ? - Đoạn văn có dùng nhiều thuật ngữ chính trị không ? Hãy tìm các thuật ngữ đó ? - Đoạn văn có thể hiện một quan điểm chính trị nào không ? Nếu có, hãy tìm ? - Cách đưa ra lí lẽ, dẫn chứng của tác giả như thế nào ? - Đoạn văn hấp dẫn, lôi cuốn còn nhờ vào những hình ảnh so sánh ra sao ? Trả lời : Đoạn văn trên có những biểu hiện sau : - Từ ngữ : Dùng nhiều thuật ngữ chính trị như dân, Tổ quốc, truyền thống, yêu nước, xâm lăng, lũ bán nước, lũ cướp nước,… - Mục đích : Khẳng định, đề cao lòng yêu nước của nhân dân ta với một thái độ tự hào, sôi nổi trên quan điểm chính trị kiên định, dứt khoát . - Lập luận : Chặt chẽ, hùng hồn, thuyết phục. - Biện pháp tu từ : Từ ngữ giàu hình ảnh, thủ pháp ẩn dụ,…  Với những biều hiện tiêu biểu trên, có thể khẳng định đoạn văn thuộc phong cách chính luận. Trích đoạn trên được xem là một trong những đoạn văn chính luận xuất sắc của Hồ Chủ tịch. Bài học đến đây là kết thúc, cảm ơn Quý Thầy Cô giáo và các em đã chú ý lắng nghe !

File đính kèm:

  • pptPC NGON NGU CHINH LUAN_bo sung.ppt
Giáo án liên quan