Bí quyết ôn thi môn Văn hiệu quả

1. Chọn thầy học, chọn sách đọc

Chỉ những người có năng lực đặc biệt xuất sắc mới có khả năng tự học và đạt hiệu quả như mong muốn. Hầu hết thí sinh dự thi đại học và cao đẳng không có được năng lực ấy.

Vì vậy, các em cần sự hướng dẫn của những cuốn sách tốt, những thầy cô giỏi, có trách nhiệm và giàu kinh nghiệm. Hiện nay, tài liệu tham khảo và luyện thi tràn ngập thị trường. Để mua được sách tốt, các em nên nhờ thầy cô có uy tín giới thiệu.

Khi đọc tài liệu tham khảo, các em nên ghi chép, suy nghĩ, tán thành, hoặc phản đối, bởi không phải mọi kiến thức trong sách vở đều đúng. Những thắc mắc, nghi ngờ, nên ghi lại để hỏi cho rõ.

Tất nhiên, việc đọc tài liệu tham khảo là cần thiết, nhưng không thể thay thế được việc nghe giảng trên lớp. Nếu được thầy cô giỏi, tâm huyết giảng dạy và hướng dẫn, các em sẽ thấy văn học hấp dẫn và thú vị hơn, hiểu vấn đề sâu sắc hơn

Nếu học ở các trung tâm luyện thi, các em nên tìm học những người có khả năng trang bị một hệ thống phương pháp, kĩ năng, chứ không nên quá thiên về chi tiết bài giảng.

 

doc13 trang | Chia sẻ: luyenbuitvga | Ngày: 19/02/2014 | Lượt xem: 700 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Bí quyết ôn thi môn Văn hiệu quả, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Bí quyết ôn thi môn Văn hiệu quả Thạc sĩ Phạm Hữu Cường, giảng viên Đại học Quốc gia Hà Nội - chia sẻ một số bí quyết ôn và thi tốt môn Văn học trong kì thi đại học, cao đẳng 1. Chọn thầy học, chọn sách đọc Chỉ những người có năng lực đặc biệt xuất sắc mới có khả năng tự học và đạt hiệu quả như mong muốn. Hầu hết thí sinh dự thi đại học và cao đẳng không có được năng lực ấy. Vì vậy, các em cần sự hướng dẫn của những cuốn sách tốt, những thầy cô giỏi, có trách nhiệm và giàu kinh nghiệm. Hiện nay, tài liệu tham khảo và luyện thi tràn ngập thị trường. Để mua được sách tốt, các em nên nhờ thầy cô có uy tín giới thiệu. Khi đọc tài liệu tham khảo, các em nên ghi chép, suy nghĩ, tán thành, hoặc phản đối, bởi không phải mọi kiến thức trong sách vở đều đúng. Những thắc mắc, nghi ngờ, nên ghi lại để hỏi cho rõ. Tất nhiên, việc đọc tài liệu tham khảo là cần thiết, nhưng không thể thay thế được việc nghe giảng trên lớp. Nếu được thầy cô giỏi, tâm huyết giảng dạy và hướng dẫn, các em sẽ thấy văn học hấp dẫn và thú vị hơn, hiểu vấn đề sâu sắc hơn… Nếu học ở các trung tâm luyện thi, các em nên tìm học những người có khả năng trang bị một hệ thống phương pháp, kĩ năng, chứ không nên quá thiên về chi tiết bài giảng. 2. Tham khảo đề thi, đáp án, biểu điểm Các em nên tham khảo đề thi, đáp án, biểu điểm chính thức và dự bị những năm trước của Bộ GD&ĐT. Nó sẽ giúp học sinh có một định hướng rõ ràng hơn trong việc ôn tập và làm bài thi. Khi đọc những tài liệu này, cần lưu ý đến điểm số dành cho từng ý; tại sao ý này điểm nhiều, ý kia điểm ít; cũng như trình tự sắp xếp các ý, phạm vi dẫn chứng… Các em cũng nên học hỏi cách làm bài, kiến thức, cách mở bài, kết bài, triển khai ý, cách chuyển ý, trình bày, diễn đạt… qua những bài văn đạt điểm cao trong các kì thi đại học trước đó, đồng thời so sánh các bài viết này với đáp án và biểu điểm của Bộ, xem bài làm thiếu ý nào, có ý nào mới hơn, tại sao lại được điểm cao như thế… Các em có thể tìm thấy các tài liệu này tại địa chỉ sau: của Bộ GD&ĐT. 3. Không học tủ, nhưng cần có trọng tâm Có thí sinh cho rằng năm trước, đề thi đã ra vào bài này, phần này, nên năm sau sẽ không rơi vào bài đó nữa. Nhận thức như vậy là chủ quan, vừa sai lầm, vừa thiển cận. Nhiều em ngại khó, nên thường bỏ qua các bài khó hoặc ít hấp dẫn như Người lái đò sông Đà, Các vị La Hán chùa Tây phương…Nhưng đề thi vẫn có thể rơi vào các bài đó, mà khi đề đã ra, thì dù không thích cũng phải làm. Đề thi môn Văn thường kiểm tra toàn diện kiến thức văn học sử (về giai đoạn văn học 1945 - 1975 và 5 tác giả), cũng như tác phẩm văn học cả trước và sau Cách mạng, cả thơ và văn, thậm chí cả kịch (như chương trình phân ban), đồng thời kiểm tra toàn diện các kĩ năng tóm tắt, bình giảng, phân tích, so sánh, giải thích, chứng minh... Trước đây, dung lượng kiến thức văn học lãng mạn và văn học hiện thực trước Cách mạng chỉ chiếm khoảng 30% (câu 3 điểm), nhưng trong đề thi của khối D, M các năm 2002 và 2007 đã chiếm tới 50% (câu 5 điểm). Vì vậy, các em nên cố gắng ôn tập đều ở tất cả các phần, các bài trong chương trình thi, không nên học tủ. Với cách ra đề phân thành nhiều câu, nhiều phần như chủ trương của Bộ, thì học tủ là rất nguy hiểm. Tuy vậy, các em vẫn nên ôn tập có trọng tâm, trọng điểm. Bên cạnh ôn tập kiến thức, cần rèn luyện kĩ năng làm các kiểu bài tóm tắt về tác giả, tác phẩm và giai đoạn văn học; kĩ năng phân tích văn xuôi và bình giảng thơ; kĩ năng phân tích đề, tìm ý, triển khai ý, mở bài, kết bài, chuyển đoạn, trình bày, diễn đạt… Cần bám sát chương trình của Bộ và sách giáo khoa, vì đó là văn bản pháp quy của nhà nước, mà đề thi không được nằm ngoài. Lưu ý rằng tất cả những gì có trong sách giáo khoa đều có thể thi. Thạc sĩ Thạc sĩ Phạm Hữu Cường. Phạm Hữu Cường tốt nghiệp khoa Ngữ văn, Đại học Sư phạm Hà Nội năm 1993, bảo vệ học vị Thạc sĩ khoa học ngữ văn năm 2002, từng hơn 15 năm giảng dạy, bồi dưỡng học sinh giỏi văn quốc gia. Hiện tại, Thạc sĩ Cường tham gia giảng dạy tại một trường đại học ở Hà Nội, luyện thi ở trung tâm Đa Minh (Bách Khoa). Anh là tác giả của các đầu sách "Tuyển tập đề và chuyên đề bồi dưỡng học sinh giỏi quốc gia môn Văn", "Lối nhỏ đến trang văn" (2 tập), "Mười hai chuyên đề ôn luyện thi đại học - cao đẳng môn Văn", "Bí quyết ôn thi đại học môn Văn"(2 tập), ""Phương pháp ôn tập và hướng dẫn giải các kiểu bài tiêu biểu trong kì thi đại học môn Văn" (3 tập). Mới đây nhất, anh viết cuốn sách “Phương pháp ôn tập và hướng dẫn giải các kiểu bài tiêu biểu trong kì thi đại học môn Văn”, gồm 3 tập 4. Khám phá tác phẩm trong các mối liên hệ * Các mối liên hệ bên ngoài: Tác phẩm văn học là đứa con tinh thần của nhà văn, nhưng cũng là con đẻ của hoàn cảnh lịch sử, thời đại, là nơi ghi dấu ấn tâm hồn, tư tưởng, tài năng và tâm huyết nhà văn trong một thời điểm nhất định. Muốn nắm bắt, cần phải biết tác phẩm đó gắn liền với hoàn cảnh lịch sử nào. Ở đây, môn văn gián tiếp đòi hỏi thí sinh phải có kiến thức về lịch sử, nếu không khó mà phân tích đúng. Vì vậy, các em cần nắm chắc hoàn cảnh ra đời, ý nghĩa nhan đề và kết cấu cảm hứng để hiểu sâu và chính xác về nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật tác phẩm, đồng thời qua tác phẩm phải thấy được cả hiện thực thời đại mà nhà văn sống và sáng tác. “Qua nhà thơ, người ta tìm thấy tầm cỡ thời đại” (Jiri Worlker). Nếu không ra đời vào mùa xuân năm 1948, thời điểm mà vấn đề “nhận đường” (Nguyễn Đình Thi), vấn đề “lột xác” (Nguyễn Tuân) đang đặt ra một cách gay gắt đối với các văn nghệ sĩ trí thức tiểu tư sản lớp trước, thì “Đôi mắt” sẽ không phải là tuyên ngôn nghệ thuật của một thế hệ nhà văn đi theo kháng chiến như Nam Cao, Tô Hoài. Mặt khác, cần tránh xu hướng xã hội học dung tục, chỉ tìm thấy ở văn chương những ý nghĩa xã hội và đạo đức. Chẳng hạn, không nên hiểu dòng thơ “Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc”(Chiều tối - Hồ Chí Minh) là “tố cáo chế độ Quốc dân đảng bóc lột sức lao động của trẻ em”, hoặc dòng thơ “Quần tinh ủng nguyệt thướng thu san” (Giải đi sớm - Hồ Chí Minh ) là “nhân dân ủng hộ lãnh tụ” hay “bọn lính áp giải vây quanh người tù cô đơn nơi đất khách” như có người từng hiểu… Để hiểu sâu sắc và chính xác về tác phẩm, cần đặt nó trong mối liên hệ với quan điểm sáng tác, tư tưởng và phong cách nghệ thuật của nhà văn. Chỉ khi liên hệ với quan niệm về người tài của Nguyễn Tuân, mới hiểu được tại sao Huấn Cao và ông lái đò sông Đà lại được nhà văn ngợi ca là những người tài hoa, nghệ sĩ hơn đời. “Thơ duyên” chính là hiện thân cho quan điểm “Để tâm hồn ràng buộc bởi muôn dây/ Hay chia sẻ bởi trăm tình yêu mến” của Xuân Diệu, còn "Hai đứa trẻ" là sự thực thi thiên chức của một nhà văn luôn khát khao “nâng đỡ cái tốt đẹp để trong đời có nhiều công bằng hơn, yêu thương hơn” Khi tìm hiểu một tác phẩm cũng phải đặt nó trong mối liên hệ mật thiết với giai đoạn văn học, trào lưu văn học, thời kì hoặc phương pháp sáng tác. Chẳng hạn, khi tìm hiểu các bài thơ của Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử và Thâm Tâm, cần đặt chúng trong đặc điểm tư tưởng nghệ thuật của phong trào Thơ Mới lãng mạn 1932 - 1945. Cần lưu ý các tác phẩm Hai đứa trẻ, Chữ người tử tù…được sáng tác theo phương pháp lãng mạn nhưng vẫn có một cảm quan hiện thực sâu sắc.  * Các mối liên hệ bên trong: Mỗi tác phẩm văn chương thường có hai phần nổi bật: nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật. Hai phần này thường thống nhất với nhau. Tìm hiểu nội dung là nhằm chỉ ra tư tưởng và quan niệm của nhà văn về con người và cuộc sống, tìm hiểu hình thức là để chỉ ra tài năng nghệ thuật của nhà văn, cũng như sự thống nhất và phù hợp của hình thức với nội dung. Rất ít khi đề thi yêu cầu trực tiếp là làm rõ hai mặt này. Tuy nhiên, trên thực tế, để giải quyết vấn đề nào đó của đề thi, trong quá trình đi vào nội dung nhất thiết phải trình bày nội dung đó được biểu đạt bằng những phương tiện nghệ thuật nào, tìm sự hài hoà giữa nội dung và hình thức, giữa ý nghĩa tư tưởng và giá trị nghệ thuật. Nên từ hình thức tìm ra nội dung và tránh diễn xuôi tác phẩm, văn thơ. Để diễn tả những cung bậc của một tình yêu trong xa xôi cách trở với nỗi nhớ mong “cả trong mơ còn thức”, với niềm lo nghĩ, với tình cảm thủy chung, tha thiết, chân thành và cả niềm tin mãnh liệt vào sức mình trong việc vượt qua những xa xôi, cách trở, mất còn… để đến với người mình yêu, Xuân Quỳnh đã mượn hình ảnh sóng xa bờ, nhớ bờ, đồng thời sử dụng thể thơ 5 chữ với lối ngắt nhịp cân đối, âm điệu hài hòa. Nhịp điệu của bài thơ chính là nhịp điệu của một cõi lòng đang bị con sóng tình yêu khuấy động. Thế giới nghệ thuật của tác phẩm là thế giới hình tượng do nhà văn sáng tạo ra, có quy luật riêng, thang bậc giá trị riêng, thời gian và không gian nghệ thuật riêng. Vì vậy khi tìm hiểu tác phẩm, không được đồng nhất nó với thế giới thực tại ngoài đời, ngay cả khi nhân vật được xây dựng từ một nguyên mẫu có thật như Hoàng đế An nam trong “Vi hành”, Hoàng trong “Đôi mắt”, Đào trong “Mùa lạc”, Huấn Cao trong “Chữ người tử tù”… “Mọi chân lí sẽ trở nên sai lầm, nếu chúng ta cứ xét đoán nó trên cơ sở của những kinh nghiệm hàng ngày” (Ph. Ăngghen). Chân lí nghệ thuật trong tác phẩm văn học cũng vậy. Thế giới hình tượng trong tác phẩm được xây dựng nên từ các chi tiết nghệ thuật. Tìm hiểu tác phẩm phải luôn xuất phát từ chi tiết. Mỗi chi tiêt trong tác phẩm là một ô cửa mở ra cả một thế giới, là những “chi tiết mang thai” (Hêghen), bởi nó có khả năng sinh nở ra những ý nghĩa mới. Tài năng của một nhà văn lớn bao giờ cũng được làm nên từ những chi tiết nhỏ. Vì vậy, về văn xuôi, các em nhất định phải nắm được diễn biến câu chuyện, cách kể và giọng điệu của nhà văn, nhân vật trung tâm và những chi tiết, sự kiện xoay quanh nhân vật trung tâm đó. Về thơ, phải nắm được cảm hứng chủ đạo của nhà thơ, kết cấu cảm hứng của bài thơ, đoạn thơ, những chi tiết, hình ảnh mà nhà thơ sử dụng để bộc lộ cảm xúc. Về kịch, phải nắm được những mâu thuẫn, xung đột, các lời thoại quan trong…Từ các chi tiết nghệ thuật ấy, tìm ra tư tưởng và tình cảm mà nhà văn gửi gắm cũng như tài năng nghệ thuật của nhà văn. Chẳng hạn, “Đào đã đứng tựa cột bương, cả thân người trên bị mái gianh che tối” là một chi tiết thể hiện cái nhìn tinh tế và nhân ái của nhà văn. Nguyễn Khải đã dùng bóng tối của mái gianh để che đi cái xấu xí, thua thiệt trong ngoại hình của Đào, đồng thời làm nổi bật hơn vẻ đẹp của niềm khát khao hạnh phúc. Không nên bỏ qua các chi tiết quan trọng, cũng không nên quá sa đà vào phân tích chi tiết, để tránh tình trạng chỉ thấy cây mà không thấy rừng. Thực hiện phương châm tăng cường chất văn trong việc dạy và học văn, cũng cần bám sát văn bản ngôn từ và thế giới hình tượng của tác phẩm, chú ý giọng điệu, kết cấu tác phẩm. Chẳng hạn bài thơ “Đây thôn Vĩ dạ” của Hàn Mặc Tử được kết cấu toàn bằng những lời ướm hỏi, ba khổ thơ là ba câu hỏi liên tiếp, nên bài thơ sẽ chủ yếu thể hiện niềm băn khoăn day dứt của con người, khát vọng chủ quan của nhà thơ chứ không chỉ là vấn đề “vịnh cảnh hay tỏ tình”. 5. Ôn tập theo vấn đề và nhóm tác phẩm Những tác phẩm trong nhóm thường phải có chung một hoặc một số điểm tương đồng, chẳng hạn cùng chung đề tài (về đất nước, về người lính, về người phụ nữ, về chủ nghĩa anh hùng cách mạng...), chung thể loại (truyện ngắn, thơ...), chung giai đoạn sáng tác (từ đầu thế kỉ XX đến năm 1945, từ năm 1945 đến 1975)... Ôn tập theo hướng này, các em sẽ có thể giải quyết tốt được cả hai dạng: đề đơn (đề cập tới một tác phẩm) và đề tổng hợp (đề cập tới nhiều tác phẩm). Các em nên tập trung vào các nhóm tác phẩm sau đây: 5.1 Nhóm các tác phẩm thể hiện đề tài và cảm hứng về đất nước: Tuyên ngôn độc lập, Bên kia sông Đuống, Tiếng hát con tàu, Đất nước của Nguyễn Đình Thi, trích đoạn Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm… 5.2 Nhóm các tác phẩm thể hiện đề tài và cảm hứng về nhân dân: Tuyên ngôn độc lập, Đôi mắt, Việt Bắc, Tiếng hát con tàu, trích đoạn Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm… 5.3 Nhóm các tác phẩm thể hiện cảm hứng nhân đạo: Hai đứa trẻ, Chí Phèo, Đời thừa, Vợ chồng A Phủ, Vợ nhặt, Mùa lạc, Các vị La Hán chùa Tây phương… 5.4 Nhóm các tác phẩm thể hiện cảm hứng nhân văn: Chữ người tử tù, Người lái đò sông Đà… 5.5 Nhóm các tác phẩm thể hiện đề tài và cảm hứng về người lính: Tây Tiến, Rừng xà nu, Mảnh trăng cuối rừng, Những đứa con trong gia đình… Cần lưu ý là nhóm các tác phẩm này thường thể hiện rất nổi bật cảm hứng về chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, chủ nghĩa yêu nước, khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn. 5.6 Nhóm các tác phẩm thể hiện bản lĩnh, khát vọng và vẻ đẹp tâm hồn của người chiến sĩ cộng sản trong những hoàn cảnh thử thách khắc nghiệt của chốn ngục tù: Tâm tư trong tù, Mộ, Tảo giải… hoặc khi mới được trả tự do: Tân xuất ngục, học đăng sơn. 5.7 Nhóm các tác phẩm thể hiện đề tài và cảm hứng về thân phận, khát vọng và vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ: Đời thừa, Vợ chồng A Phủ, Vợ nhặt, Mùa lạc, Sóng… 5.8 Nhóm các tác phẩm thể hiện nỗi nhớ và thái độ ân tình ân nghĩa với quá khứ: Tây Tiến, Bên kia sông Đuống, Việt Bắc, Kính gửi cụ Nguyễn Du, Tiếng hát con tàu, Đất nước của Nguyễn Đình Thi. 5.9 Nhóm các tác phẩm thể hiện sức mạnh của tiếng cười châm biếm trào phúng: Vi hành và trích đoạn Hạnh phúc của một tang gia. 5.10 Nhóm các tác phẩm thể hiện tuyên ngôn nghệ thuật của nhà văn: Đời thừa, Đôi mắt, Tiếng hát con tàu, Vũ Như Tô, Chiếc thuyền ngoài xa… 5.11 Nhóm các tác phẩm xây dựng thành công tình huống truyện độc đáo, giàu ý nghĩa: Chữ người tử tù, Vi hành, Vợ nhặt, Mảnh trăng cuối rừng, Chiếc thuyền ngoài xa… 5.12 Nhóm các tác phẩm thể hiện đề tài và cảm hứng về Tây Bắc: Tây Tiến, Vợ chồng A Phủ, Tiếng hát con tàu, Mùa lạc, Người lái đò sông Đà… 5.13 Nhóm các tác phẩm thể hiện tâm trạng và khát vọng của cái Tôi Thơ Mới: Đây mùa thu tới, Vội vàng, Thơ duyên, Tràng giang, Đây thôn Vĩ dạ, Tống biệt hành… Ở các tác phẩm này cũng như các tác phẩm văn học lãng mạn khác, cần lưu ý “nỗi đau khổ của người dân mất nước, sự quằn quại của tâm hồn bị bóp nghẹt, lòng khao khát một cuộc sống chân thật, tự do”( Trường Chinh – Bài nói tại Đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ 2 năm 1957), và lòng yêu nước kín đáo, tinh thần dân tộc thấm thía được biểu hiện qua lòng yêu tiếng mẹ đẻ: “Họ dồn tình yêu quê hương trong tình yêu Tiếng Việt. Tiếng Việt, họ nghĩ , là tấm lụa đã hứng vong hồn những thế hệ qua. Đến lượt họ, họ cũng muốn mượn tấm hồn bạch chung để gửi nỗi băn khoăn riêng”( Hoài Thanh - Thi nhân Việt nam -1941) . Sau khi tập hợp các tác phẩm thành từng nhóm, cần phải phát hiện được: - Những nét độc đáo của tác phẩm này so với tác phẩm khác. - Những nét chung của tác phẩm trong nhóm. Chẳng hạn, cùng viết về đất nước quê hương nhưng “Bên kia sông Đuống” của Hoàng Cầm, “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi và trích đoạn “Đất nước” của Nguyễn Khoa Điềm vẫn có những khám phá, cảm nhận và thể hiện riêng, với những sắc thái tình cảm riêng. Hoàng Cầm đau đớn, nhớ tiếc, “xót xa như rụng bàn tay” trước một miền quê cụ thể có vẻ đẹp cổ kính và truyền thống văn hóa nghệ thuật lâu đời đang bị kẻ thù chiếm đóng, hủy hoại; Nguyễn Đình Thi tự hào, hãnh diện trước một đất nước mới hồi sinh tự do “tươi thắm vô ngần”, sau khi trải qua những ngày nô lệ, đau thương; Nguyễn Khoa Điềm lại tự hào về một đất nước “của nhân dân, đất nước của ca dao thần thoại”, một đất nước do những người “không ai nhớ mặt đặt tên” hóa thân mà thành, do nhân dân vô danh gìn giữ, dựng xây và truyền lại cho các thế hệ sau. Một số đề chung cho các nhóm tác phẩm trên thường được nêu ở những trang cuối cùng của sách giáo khoa cải cách giáo dục, trong phần Hướng dẫn ôn tập cuối năm, hoặc phần bài tập nâng cao ở cuối mỗi bài học trong sách giáo khoa phân ban.    6. Học văn theo ý, kết hợp tư duy và tái hiện Bài văn hay, đạt điểm cao, thậm chí điểm tuyệt đối là bài văn có một hệ thống ý đầy đủ, sáng tạo, chặt chẽ, đáp ứng toàn diện yêu cầu của đề, được thể hiện qua một hình thức trình bày và  diễn đạt chính xác, trong sáng, rõ ràng, tinh tế, khéo léo, có hình ảnh và cảm xúc. Các giám khảo chấm bài thi cũng phải so sánh giữa  hệ thống ý của bài văn và hệ thống ý mà Bộ GD&ĐT đề ra trong đáp án và biểu điểm chấm thi để cho điểm. Vì vậy, khi học văn, các em cần tránh học vẹt, mà nên học theo ý (theo luận điểm). Cần nhớ số lượng ý lớn, ý nhỏ trong từng bài, từng đề, rồi mới nhớ nội dung của từng ý, từng luận điểm. Học theo ý, mới có thể dễ nhớ, nhớ lâu và sâu sắc. Khi làm bài, các em nên diễn đạt lại những ý đó theo cách của mình. Những bài văn mẫu, những bài giảng các thầy, các cô cho ghi, dù hay đến đâu, cũng chỉ nên coi như 1 tài liệu tham khảo cách diễn đạt. hoặc xem lại ý khi quên. Nói như người xưa, ý là“bột”, bài văn là“hồ”, còn quá trình diễn đạt ý thành bài là “gột”. “Có bột mới gột nên hồ”. Giống như quá trình tư duy, quá trình nhận thức của con người, khi học và làm văn, cũng cần qua 3 bước là HIỂU - NHỚ - VẬN DỤNG. Muốn vận dụng được kiến thức đã học vào bài làm văn, cần phải nhớ và hiểu được những kiến thức ấy. Muốn nhớ được kiến thức thì trước hết phải hiểu nó. Muốn hiểu thì phải chịu khó tìm tòi, suy nghĩ, đọc tài liệu tham khảo, chăm chú nghe giảng bằng tất cả niềm say mê, tâm huyết của mình, giống như niềm đam mê của nhân vật Hộ trong “Đời thừa” của Nam Cao: “Hắn đọc, ngẫm nghĩ, tìm tòi, nhận xét và suy tưởng không biết chán!”… Học văn không phải là cắm đầu ghi cho đầy vở, mà là phải hiểu, nhớ và ghi lại các ý hay, các luận điểm quan trọng. Nếu tìm được thầy dạy giỏi, hay, hấp dẫn, tâm huyết…các em có thể nhớ được ít nhất 90% kiến thức ngay trên lớp, về nhà chỉ cần học thêm khoảng 10%  và xem lại những kiến thức nắm chưa thật chắc. Gặp những vấn đề chưa hiểu, các em cứ mạnh dạn hỏi, chắc chắn không thầy cô nào từ chối, dù họ có bận và mệt đến đâu. Kiến thức càng sắp xếp khoa học, chặt chẽ, rành mạch bao nhiêu, càng dễ nhớ bấy nhiêu. Để tránh học vẹt, khi học văn, các em không nên cầm sách học thuộc lòng, mà nên học theo phương pháp tái hiện. Sau giờ học trên lớp, hãy dành thời gian tĩnh tâm (khoảng 20 - 30 phút) để nhớ lại kiến thức vừa học, nhất là hệ thống ý lớn, ý nhỏ. Sau đó mới mở sách ra kiểm tra lại. ý nào mình chưa nhớ được thì cần phải học ngay. Học theo cách này, các em có thể học ở bất kì đâu, thậm chí không cần sách vở. Nếu có bạn cùng học, hai người kiểm tra kiến thức cho nhau là tốt nhất. Việc hệ thống kiến thức theo các bảng, theo các nhánh cây, các mô hình, và việc liên hệ giữa văn học với cuộc sống, nhất là cuộc sống của bản thân cũng giúp các em nhớ kiến thức lâu và sâu sắc. Sau khi đã hiểu và nhớ kiến thức, cần vận dụng lại kiến thức bằng cách làm bài tập, hoặc giải đề thi thử, giải lại một đề đã thi… Dù có học văn - tiếng Việt 12 năm, nhưng cuối cùng của việc thi đại học, cao đẳng vẫn chỉ là viết 3 bài văn nhỏ theo yêu cầu của 1 đề thi trong vòng 180 phút. Vì vậy không gì tốt hơn là tập viết bài theo yêu cầu của đề thi đại học. Các em có thể tự xây dựng đáp án, biểu điểm, tự chấm bài cho nhau, hoặc nhờ ai đó chấm. Để dễ nhớ dẫn chứng và học văn đạt kết quả tốt, cần đọc tác phẩm. Các em nên đọc trước khi bài được học trên lớp, khi chưa hề nghe giảng, đọc bằng một văn bản hoàn toàn mới, chưa hề có ai đánh dấu. Điều này rất quan trọng, bởi những ấn tượng ban đầu của các em khi tiếp xúc với tác phẩm sẽ được nhớ rất lâu, và giúp định hướng hiểu tác phẩm. Các em nên đọc tác phẩm và học văn vào sáng sớm, khi đọc, nên đánh dấu lại những chi tiết, hình ảnh, từ ngữ mà mình cho là quan trọng, hoặc thấy hay, thấy có ý nghĩa và xúc động, đồng thời ghi nhớ luôn các chi tiết ấy vào não để vận dụng lại vào bài viết sau này. Nhìn chung, để học văn đạt hiệu quả cao, các em phải học văn bằng chính cái đầu và trái tim của mình, tự tìm một con đường đi cho riêng mình. Giáo viên là người hướng dẫn, dìu dắt, đồng thời đánh giá, thẩm định kết quả, chứ không làm thay, học thay, nghĩ hộ các em được 8. Tăng cường chiều sâu tư tưởng và lí luận Để tăng cường chiều sâu tư tưởng cho bài văn, cần chú trọng khám phá những lớp ý nghĩa sâu sắc hơn, chìm lấp của văn bản nghệ thuật. Mỗi tác phẩm văn học là cả một hệ thống ý nghĩa sâu sắc, mà chỉ những người có năng lực cảm thụ tinh tế, sắc sảo và vốn văn hóa sâu rộng mới có thể nhận ra. Người học văn cần hiểu hết bảy phần chìm của “Tảng băng trôi” như O.Hemingway từng nói. Chẳng hạn, tuỳ bút “Người lái đò sông Đà” không chỉ ca ngợi những “vẻ đẹp vàng mười nơi tâm hồn con người vùng Tây bắc”, mà còn là bài ca về tư thế tự do và niềm tin vào khả năng chiến thắng của Con Người trong cuộc đọ sức muôn thuở với thiên nhiên, một thiên nhiên vừa là “cố nhân”, là bầu bạn, vừa như “kẻ thù số một” của con người. Tác phẩm cũng góp phần giải phóng ý thức của con người khỏi “nỗi khiếp đảm vũ trụ, nỗi sợ thiên nhiên” như M.Bakhtin từng lưu ý. Tương tự như thế, cần thấy được chiều sâu ý nghĩa của các tác phẩm Ông già và biển cả, Hăm lét, Truyện Kiều…Đó là xu hướng học văn có chiều sâu, rất được đề cao hiện nay. Lí luận văn học tồn tại dưới hai hình thức cơ bản:  - Lí luận nguyên lí là các khái niệm, nguyên lí, các vấn đề văn học được khái quát, đúc rút từ thực tiễn sáng tác văn học và các tác phẩm văn học. Người học văn cần nắm vững các nguyên lí lí luận văn học để việc phân tích, cảm nhận văn học được tinh tế, sâu sắc, chính xác và đáng tin cậy hơn. - Lí luận vận dụng: Vận dụng các tri thức lí luận để khám phá tác phẩm văn học, các vấn đề văn học. Đây là hướng tiếp cận văn học rất có ưu thế của thi pháp học hiện đại. Để bài viết có chiều sâu lí luận, không nhất thiết cứ phải trích dẫn những lời lẽ của các nhà văn, hay nhà lí luận. Chiều sâu lí luận của bài viết còn thể hiện ở sự am hiểu của người viết về các đặc trưng và quy luật của văn học. Chẳng hạn, khi phân tích nghệ thuật tả tượng La Hán của Huy Cận, phải chú ý đến giới hạn của chất liệu ngôn từ, để từ đó chỉ ra điểm mạnh của tài năng Huy Cận. Hay khi viết về sự thể hiện tư tưởng “chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo” trong “Rừng xà nu”, chỉ cần nêu được luận điểm: trong văn học, mọi tư tưởng dù lớn lao sâu sắc đến đâu cũng phải hóa thân thành hình tượng nghệ thuật bão hòa cảm xúc. Viết về cách sử dụng chi tiết nghệ thuật của Nam Cao, Thạch Lam, Tô Hoài, mà nêu được ý: Tài năng của một nhà văn lớn bao giờ cũng được làm nên từ những chi tiết nhỏ… thì bài viết đã có chiều sâu lí luận hơn nhiều. 9. Tăng cường tính chính xác và tư duy khoa học Chỉ những người không hiểu gì về văn học và việc làm văn mới cho là văn chương lai láng, mơ mộng, càng dài càng tốt, muốn viết thế nào thì viết, thậm chí bịa ra văn. Thực ra, một bài văn đạt điểm cao, là một bài viết kết hợp được tư duy khoa học chặt chẽ (như của một nhà toán học) với năng lực cảm thụ nghệ thuật tinh tế (như của một nhà phê bình tài hoa). Văn học là một môn khoa học về nghệ thuật ngôn từ. Vì vậy, cần kết hợp vừa tăng cường chất văn vừa tăng cường tính chính xác trong bài văn, nhất là trong việc trích dẫn kiến thức và dẫn chứng. Lời răn của cụ Tú Xương ngày trước vẫn còn nguyên ý nghĩa: “Văn chương nào phải là đơn thuốc/Chớ có khuyên xằng, chết bỏ bu!” Bên cạnh đó, việc hiểu rõ, nắm vững và sử dụng chính xác các khái niệm, các thuật ngữ văn học cũng giúp tăng cường tính chính xác của bài văn. Các em không nên sử dụng khái niệm, nếu như chưa hiểu rõ về nó. Các em cần hiểu, phân biệt, và sử dụng chính xác các khái niệm: nhân đạo, nhân văn, nhân bản, nhân ái. Các em nên tìm hiểu, nắm vững và sử dụng thành thạo thêm các khái niệm: lãng mạn, hiện thực, tính dân tộc, tình huống truyện, thể thơ lục bát, hình thức lẩy “Kiều”, lối thơ vắt dòng, giọng điệu văn chương, nhân vật trữ tình, tính sử thi..., cũng như phân biệt chính xác giữa tác giả lời nói với chủ thể lời nói, cảm hứng sáng tác và cảm hứng tư tưởng, nhân vật trữ tình và nhân vật trong thơ trữ tình… 10. Xây dựng đoạn văn chặt chẽ và chuyển ý khéo léo Khi đã có “bột” (hệ thống luận điểm hay còn gọi là hệ thống ý trong bài văn), các em cần “gột” (diễn đạt) nó thành “hồ” (bài văn). Mỗi ý lớn cần được triển khai thành nhiều ý nhỏ, có phân tích, giảng giải, chứng minh, và được tổ chức thành một đoạn văn, sao cho khi các đoạn văn kết hợp với nhau sẽ tạo thành một bài viết hoàn chỉnh, đáp ứng toàn diện yêu cầu của đề bài. Vì vậy, các em nên tự rèn luyện kĩ năng viết 1 ý thành đoạn văn, dưới nhiều hình thức như quy nạp, diễn dịch, tổng - phân -  hợp… Sự kết hợp luân phiên của các đoạn văn với các hình thức khác nhau như thế, sẽ tránh cho bài văn khỏi sự lặp lại nhàm chán, đơn điệu. Cũng cần xác định mức độ trình bày đối với mỗi ý. Trong bài văn đạt điểm cao, không phải mọi ý đều được trình bày với độ dài ngắn như nhau. Trái lại, ý nào quan trọng, cần viết dài hơn, để triển khai kĩ lưỡng hơn; ý nào phụ, có thể trình bày ngắn gọn, bằng cách lướt qua, hoặc nêu tóm tắt. Khi hết một ý, chuyển sang ý khác, cần có câu chuyển ý (chuyển đoạn). Câu chuyển ý rất quan trọng, đảm bảo cho ý văn liền mạch, thống nhất và nhuần nhuyễn, giống như các khớp xương nối các phần cơ thể với nhau. Câu chuyển ý có chức năng khép lại ý đã viết xong và mở ra một ý mới, nên cần diễn đạt khéo léo. Chẳng hạn, sau khi phân tích thân phận và cảnh ngộ khốn khổ của Mị, để chuyển sang phân tí

File đính kèm:

  • docbi quyet on thi mon van hieu qua(1).doc