Đề tài Hình tượng thiên nhiên trong sử thi Ramayana

Đất nước Ấn Độ thật rộng lớn và hùng vĩ, hai bên là biển cả mênh mông, phía Bắc có dãy núiHimalayasừng sững án ngữ. Nằm trong lòng tam giác núi cao biển rộng ấy là một miền đồng bằng Ấn – Hằng với hệ thống sông ngòi phong phú và cao nguyên Decan. “Thiên nhiên có lẽ đã dùng đến mọi nguyên vật liệu của mình, dốc hết mọi tiềm năng đa dạng không cùng của mình để kiến tạo nên một đất nước Ấn Độ tuyệt mĩ”[6,tráng 195]. Biển rộng và núi cao là những chướng ngại tự nhiên đáng kể đã làm cho Ấn Độ trở thành một khu vực văn hoá tương đối riêng biệt, chừng nào đó tách rời với thế giới. Tuy nhiên những biên giới tự nhiên nổi bật đó cũng đã tạo cho Ấn Độ một khung cảnh, một cảm quan thống nhất, đặc biệt là về văn hoá. Con người Ấn Độ dung dị hiền hoà và luôn trăn trở với bổn phận. Tư tưởng chính của người Ấn là mọi vật trong vũ trụ là một. Nên họ có tư tưởng khoan dung và hoà giải. Nhiều tộc người khác nhau sống trên đất Ấn đã góp phần của mình vào nền văn hoá. “Trong lịch sử lâu đời, trải qua nhiều thiên niên kỉ của mình, nhân dân Ấn Độ đã sáng tạo nên một nền văn hoá vừa phong phú đa dạng vừa độc đáo đặc sắc. Văn hoá Ấn Độ là một trong những nền văn hoá lớn của loài người, có nhiều ảnh hưởng sâu rộng trên thế giới, trong đó có ViệtNam”[8, trang 72], đặc biệt là văn học.

“Nói đến văn học Ấn Độ bao giờ người ta cũng nghĩ đến hai bộ sử thi Mhabharata và Ramayana. Địa vị hai bộ sử thi này đối với Châu Á cũng ngang với hai bộ sử thi Iliat và Ôđixê của Hi Lạp đối với Châu Âu”[12, trang 5]. Nhất là Ramayana một thiên sử thi anh hùng tráng lệ. “Hơn hai ngàn năm qua, tác phẩm không những đã đi vào tâm hồn dân tộc, trở thành nền tảng của đạo đức, của tinh thần Ấn Độ mà còn toả sáng đối với cả vùng ĐôngNamchịu ảnh hưởng của văn hoá Ấn”.

Ramayana là một tác phẩm có tính mẫu mực và bao quát. Mọi mặt trong đời sống Ấn Độ đều được phản ánh trong sử thi. Ở đây người viết chỉ đi vào tìm hiểu hình tượng thiên nhiên. Một nét khá đặc sắc ở Ramayana là hình tượng thiên nhiên. Thiên anh hùng ca này dành một phần lớn, gần một phần hai số trang trong tác phẩm, để miêu tả về thiên nhiên. Điều này rất khó có thể tìm thấy trong các sử thi khác.

Sức hấp dẫn của các trang viết về thiên nhiên trong Ramayana cực kì mạnh mẽ. Thiên nhiên không đơn thuần là thiên nhiên, nó tồn tại như một nhân vật, hàm chứa những nội dung ý nghĩa sâu sắc và nhũng nét nghệ thuật độc đáo tinh tế. Bởi thế qua việc nghiên cứu người viết mong muốn khám phá được những nét đặc sắc của thiên nhiên trong sử thi này cũng như có thể hiểu thêm về thiên nhiên và con người Ấn Độ. Đồng thời qua cái nhìn thiên nhiên chúng ta có thể hiểu sâu sắc hơn tâm hồn nhân vật và cả tài năng nghệ thuật của tác giả.

Hơn nữa về mặt thực tiễn chúng ta thấy rằng ở ViệtNamhiện nay việc nghiên cứu và phổ biến văn học Ấn Độ chưa được rộng rãi. Trong các nền văn học Châu Á, văn học Trung Quốc có quan hệ mật thiết và lâu đời với văn học ViệtNam. Do vậy văn học Trung Quốc rất phổ biến, quen thuộc với người đọc và giới nghiên cứu ViệtNam. Còn văn học Ấn Độ thì chưa phổ biến và quen thuộc .

Trong nền văn học đó sử thi đóng vai trò quan trọng. Sử thi Ấn Độ đã rất phát triển và đạt được những thành tựu to lớn. Trong nền văn học thế giới, sử thi là một thể loại hiếm hoi. Nếu như cả thế giới chỉ còn lưu giữ một số ít tác phẩm anh hùng ca nổi tiếng thì Ấn Độ có đến hai bộ sử thi đồ sộ là Mhabharata và Ramayana.

Sử thi còn là một thể loại mẫu mực gây ảnh hưởng sâu sắc đến các thể loại khác trong văn học về sau. “Những đặc trưng cơ bản của sử thi dần dần biến đổi và được tiểu thuyết hiện đại tiếp nhận để hình thành một thể loại mới: tiểu thuyết sử thi. Ví dụ tiểu thuyết “Tam quốc diễn nghĩa” của La Quán Trung, “Chiến tranh và hoà bình” của Lep. Tônxtôi, “Con đường đau khổ” của Alêchxây Tônxtôi”[2, trang 192]. Và điều quan trọng nhất là ngày nay sử thi vẫn có sức sống mãnh liệt và ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống văn hoá, văn học Ấn Độ nói riêng, Đông Nam Á nói chung.

 

doc41 trang | Chia sẻ: oanh_nt | Ngày: 10/01/2014 | Lượt xem: 3855 | Lượt tải: 4download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Hình tượng thiên nhiên trong sử thi Ramayana, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
“Hình tượng thiên nhiên trong sử thi Ramayana”   LỜI CẢM ƠN Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến cô Phan Thị Thu Hiền và thầy Phùng Hoài Ngọc- hai người thầy đã tận tình hướng dẫn và động viên tôi trong quá trình thực hiện luận văn. Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong bộ môn Ngữ Văn, các thầy cô ở trường Đại học An Giang và thầy cô thỉnh giảng từ trường Đại học Sư phạm, Đại học KHXH-NV thành phố Hồ Chí Minh đã hướng dẫn tôi nghiên cứu học tập hoàn thành khoá trình đào tạo suốt 4 năm qua . Tôi xin cảm ơn Thư viện trường Đại học An Giang đã giúp tôi tra cứu tài liệu làm luận văn . Xin cảm ơn các bạn học đã ủng hộ nhiều mặt để tôi hoàn thành luận văn này .                                                                   Người thực hiện                                                          SV Trịnh Thị Thu Huyền  Lí do chọn đề tài Đất nước Ấn Độ thật rộng lớn và hùng vĩ, hai bên là biển cả mênh mông, phía Bắc có dãy núiHimalayasừng sững án ngữ. Nằm trong lòng tam giác núi cao biển rộng ấy là một miền đồng bằng Ấn – Hằng với hệ thống sông ngòi phong phú và cao nguyên Decan. “Thiên nhiên có lẽ đã dùng đến mọi nguyên vật liệu của mình, dốc hết mọi tiềm năng đa dạng không cùng của mình để kiến tạo nên một đất nước Ấn Độ tuyệt mĩ”[6,tráng 195]. Biển rộng và núi cao là những chướng ngại tự nhiên đáng kể đã làm cho Ấn Độ trở thành một khu vực văn hoá tương đối riêng biệt, chừng nào đó tách rời với thế giới. Tuy nhiên những biên giới tự nhiên nổi bật đó cũng đã tạo cho Ấn Độ một khung cảnh, một cảm quan thống nhất, đặc biệt là về văn hoá. Con người Ấn Độ dung dị hiền hoà và luôn trăn trở với bổn phận. Tư tưởng chính của người Ấn là mọi vật trong vũ trụ là một. Nên họ có tư tưởng khoan dung và hoà giải. Nhiều tộc người khác nhau sống trên đất Ấn đã góp phần của mình vào nền văn hoá. “Trong lịch sử lâu đời, trải qua nhiều thiên niên kỉ của mình, nhân dân Ấn Độ đã sáng tạo nên một nền văn hoá vừa phong phú đa dạng vừa độc đáo đặc sắc. Văn hoá Ấn Độ là một trong những nền văn hoá lớn của loài người, có nhiều ảnh hưởng sâu rộng trên thế giới, trong đó có ViệtNam”[8, trang 72], đặc biệt là văn học. “Nói đến văn học Ấn Độ bao giờ người ta cũng nghĩ đến hai bộ sử thi Mhabharata và Ramayana. Địa vị hai bộ sử thi này đối với Châu Á cũng ngang với hai bộ sử thi Iliat và Ôđixê của Hi Lạp đối với Châu Âu”[12, trang 5]. Nhất là Ramayana một thiên sử thi anh hùng tráng lệ. “Hơn hai ngàn năm qua, tác phẩm không những đã đi vào tâm hồn dân tộc, trở thành nền tảng của đạo đức, của tinh thần Ấn Độ mà còn toả sáng đối với cả vùng ĐôngNamchịu ảnh hưởng của văn hoá Ấn”.    Ramayana là một tác phẩm có tính mẫu mực và bao quát. Mọi mặt trong đời sống Ấn Độ đều được phản ánh trong sử thi. Ở đây người viết chỉ đi vào tìm hiểu hình tượng thiên nhiên. Một nét khá đặc sắc ở Ramayana là hình tượng thiên nhiên. Thiên anh hùng ca này dành một phần lớn, gần một phần hai số trang trong tác phẩm, để miêu tả về thiên nhiên. Điều này rất khó có thể tìm thấy trong các sử thi khác. Sức hấp dẫn của các trang viết về thiên nhiên trong Ramayana cực kì mạnh mẽ. Thiên nhiên không đơn thuần là thiên nhiên, nó tồn tại như một nhân vật, hàm chứa những nội dung ý nghĩa sâu sắc  và nhũng nét nghệ thuật độc đáo tinh tế. Bởi thế qua việc nghiên cứu người viết mong muốn khám phá được những nét đặc sắc  của thiên nhiên trong sử thi này cũng như có thể hiểu thêm về thiên nhiên và con người Ấn Độ. Đồng thời qua cái nhìn thiên nhiên chúng ta có thể hiểu sâu sắc hơn tâm hồn nhân vật và cả tài năng nghệ thuật của tác giả. Hơn nữa về mặt thực tiễn chúng ta thấy rằng ở ViệtNamhiện nay việc nghiên cứu và phổ biến văn học Ấn Độ chưa được rộng rãi. Trong các nền văn học Châu Á, văn  học Trung Quốc có quan hệ  mật thiết và lâu đời với văn học ViệtNam. Do vậy văn học Trung Quốc rất phổ biến, quen thuộc với người đọc và giới  nghiên cứu ViệtNam. Còn văn học Ấn Độ thì chưa phổ biến và quen thuộc . Trong nền văn học đó sử thi đóng vai trò quan trọng. Sử thi Ấn Độ đã rất phát triển và đạt được những thành tựu to lớn. Trong nền văn học thế giới, sử thi là một thể loại hiếm hoi. Nếu như cả thế giới chỉ còn lưu giữ một số ít tác phẩm anh hùng ca nổi tiếng thì Ấn Độ có đến hai bộ sử thi đồ sộ là Mhabharata và Ramayana. Sử thi còn là một thể loại mẫu mực gây ảnh hưởng sâu sắc đến các thể loại khác trong văn học về sau. “Những đặc trưng cơ bản của sử thi dần dần biến đổi và được tiểu thuyết hiện đại tiếp nhận để hình thành một thể loại mới: tiểu thuyết sử thi. Ví dụ tiểu thuyết “Tam quốc diễn nghĩa” của La Quán Trung, “Chiến tranh và hoà bình” của Lep. Tônxtôi, “Con đường đau khổ” của Alêchxây Tônxtôi”[2, trang 192]. Và điều quan trọng  nhất là ngày nay sử thi vẫn có sức sống mãnh liệt và ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống văn hoá, văn học Ấn Độ nói riêng, Đông Nam Á nói chung.    Vì vậy việc tìm hiểu, nhiên cứu về sử thi Ấn Độ là rất cần thiết và có ý nghĩa. Sách ngữ văn lớp 10 cũng có chọn một số trích đoạn sử thi cho học sinh nghiên cứu. Ramayana là một trong hai thiên anh hùng ca vĩ đại của Ấn Độ. Ở đây do hạn chế bởi rất nhiều vấn đề, người viết chỉ có thể quan tâm đến một khía cạnh trong sử thi này. Đó là hình tượng thiên nhiên. Trên đây là lí do người viết chọn đề tài “Hình tượng thiên nhiên trong sử thi Ramayana”. Lịch sử vấn đề Vấn đề sử thi nói chung từ trước đến nay được nhiều tác giả dịch giả quan tâm. Ở Việt Namhầu hết những bộ sử thi lớn trên thế giới đều được dịch và giới thiệu phổ biến. Chẳng hạn “Iliat và Ôđixê” của Phan Thị Miến dịch, Hoàng Thiếu Sơn giới thiệu. “Anh hùng ca của Hômerơ”tác giả Nguyễn Văn Khoả, trong đó tổng hợp những bài nghiên cứu, phê bình đánh giá về Iliat và Ôđixê và trích dịch một số chương. Về sử thi Ấn Độ sự quan tâm chú ý cũng không ít. Tiến sĩ Phan Thu Hiền đã dịch và đi sâu nghiên cứu sử thi Mahabharata từ bản tiếng Anh trong quyển “Sử thi Ấn Độ”. Bên cạnh đó, sử thi Ramayana cùng một số tác phẩm văn chương của dân tộc Ấn được chọn lọc dịch một số chương, một số tác phẩm đưa vào quyển “Hợp tuyển văn học Ấn Độ”của tác giả Lưu Đức Trung và Phan Thu Hiền. Đồng thời các tác giả Lưu Đức Trung khi viết “Văn học Ấn Độ”, tác giả Nhật Chiêu với “Câu chuyện văn chương Phương Đông” cũng có đề cập đến hai bộ sử thi lớn này. Các công trình nghiên cứu của các tác giả sẽ giúp cho người viết, có được sự định hướng ban đầu. Trên cơ sở đó  sẽ có sự so sánh đối chiếu hợp lí. Ramayana là một sử thi lớn ở Ấn Độ cũng như trên thế giới. Là một kiệt tác văn học mang đậm vẻ đẹp của tâm hồn Ấn, Ramayana đã thu hút sự quan tâm rất lớn của độc giả và giới nghiên cứu. Trong khuôn khổ những tài liệu thu thập được, người viết sẽ hệ thống lại để tiếp tục nghiên cứu về sử thi Ramayana và hình tượng thiên nhiên trong sử thi ấy. Bản dịch Ramayana của tác giả Phạm Thuỳ Ba là trọn vẹn và đầy đủ nhất. Bản dịch gồm ba tập, do Phan Ngọc giới thiệu và Nhà xuất bản Văn Học phát hành năm 1988. Ngoài ra còn có một bản Ramayana rút ngắn của nhà văn Ấn Độ R. K. Narayan do nhà xuất bản Đà Nẵng xuất bản năm 1985. Còn vấn đề nghiên cứu về sử thi Ramayana thì đến nay chưa có công trình nào toàn vẹn và đầy đủ. Đối với vấn đề hình tượng thiên nhiên trong sử thi Ramayana thì chưa được giới nghiên cứu đi sâu tìm hiểu. Nó chỉ được nhắc đến hoặc dành cho vài dòng để nói đến. Tác giả Nhật Chiêu trong “Câu chuyện văn chương Phương Đông”  nêu lên: “Cái đẹp thiên nhiên cũng hiện ra mọi nơi trong Ramayana, một thiên nhiên đầy sức sống, đầy tình yêu và nồng nàn nhục cảm”. Trong quyển “Hợp tuyển văn học Ấn Độ” tác giả Phan Thu Hiền giới thiệu rất kĩ về Ramayana nhưng chỉ nhắc đến hình tượng thiên nhiên là “những bức tranh thiên nhiên thấm đẫm tình người”. Và khi nghiên cứu không gian, thời gian trong Mahabharata tác giả cũng đề cập đến thiên nhiên trong Ramayana, nhưng chỉ so sánh đối chiếu để làm nổi bật thiên nhiên rừng núi trong Mahabharata. Hình tượng thiên nhiên được quan tâm thể hiện nhiều nhất trong luận án tiến sĩ Ngữ Văn “Nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật trong sử thi Ramayana” của Nguyễn Thị Mai Liên, Hà Nội năm 1998. Ở luận án của mình tác giả đã nghiên cứu rất nhiều từ thiên nhiên rừng núi, kinh đô đến không gian thời gian tâm trạng… Tác giả đã khẳng định vai trò của hình tượng thiên nhiên cũng như mối quan hệ giữa thiên nhiên và con người. Tuy nhiên lại hướng đến nhân vật nhiều hơn. Luận án tìm hiểu về thiên nhiên chỉ để thể hiện nhân vật, để hiểu được tâm tư tình cảm của nhân vật chứ thiên nhiên chưa phải là đối tượng nghiên cứu như một hình tượng nghệ thuật trọn vẹn.     Dù chưa đi sâu nghiên cứu nhưng những ý kiến, những định hướng của các tác giả về hình tượng thiên nhiên trong sử thi Ramayana sẽ là những gợi ý quan trọng, giúp đỡ rất nhiều cho người viết trong việc nghiên cứu đề tài. Tất cả các công trình trên  trở thành cơ sở vững chắc để khám phá hình tượng thiên nhiên. Trên nền tảng những thành tựu của những người đi trước, người viết sẽ tiếp thu có chọn lọc những kiến giải của người đi trước để tiếp tục đi sâu tìm hiểu làm rõ những bí ẩn trong một hình tượng thiên nhiên đầy chất nghệ thuật ở Ramayana.    Với đề tài “Hình tượng thiên nhiên trong sử thi Ramayana”, người viết đi vào tìm hiểu một cách sâu sắc về hình tượng thiên nhiên. Nó xuất hiện như thế nào, mang những nội dung ý nghĩa gì, giá trị nghệ thuật tinh tế ra sao. Có thể nói trong đề tài này, hình tượng thiên nhiên được nghiên cứu như là nhân vật chính trong tác phẩm. Vì vậy, việc chọn hình tượng thiên nhiên trong sử thi Ramayana là đối tượng nghiên cứu cùng với  việc đi sâu tìm hiểu nó, người viết hi vọng rằng hình tượng thiên nhiên trong Ramayana với bao tâm huyết và sự ưu ái của tác giả sử thi sẽ được khám phá đầy đủ, trọn vẹn và sâu sắc nhất. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu về hình tượng thiên nhiên trong sử thi Ramayana. Vì vậy đối tượng nghiên cứu ở đây là sử thi Ramayana. Phạm vi nghiên cứu:   Với đề tài “Hình tượng thiên nhiên trong sử thi Ramayana” luận văn chỉ khảo sát sâu vào tác phẩm Ramayana ba tập do Phạm Thuỳ Ba dịch, Phan Ngọc giới thiệu. Khảo sát một cách khái quát toàn bộ sử thi Ramayana để thấy được hình tượng thiên nhiên đã được tác giả thể hiện như thế nào. Bên cạnh đó, luận văn đi sâu khảo sát chuyên biệt về giá trị nội dung và nghệ thuật của hình tượng thiên nhiên, đặc biệt là những chương miêu tả về thiên nhiên như “Hồ PamPa”, “Mùa Mưa”, “Mùa Thu”… III. Mục đích nghiên cứu Sử thi là một thể loại hiếm và quí trên thế giới. Tuy sử thi đã thuộc về một thời đại đã qua nhưng những đóng góp và ảnh hưởng của nó là không thể phủ nhận. Do đó việc nghiên cứu “hình tượng thiên nhiên trong sử thi Ramayana” của người viết nhằm: Trước hết Ramayana là một sử thi hết sức đặc biệt bởi những trang viết về thiên nhiên. Nghiên cứu hình tượng thiên nhiên để thấy được cái hay, cái đẹp của nó đồng thời cũng khám phá được cái hay, cái đẹp của sử thi. Hơn nữa, một hình tượng nghệ thuật, một thiên anh hùng ca không chỉ thuộc về văn học mà nó còn phản ánh, chứa đựng tư tưởng thẩm mĩ của một dân tộc. Ramayana là một thiên sử thi hùng vĩ và tráng lệ của người Ấn Độ. Do vậy, nghiên cứu hình tượng thiên nhiên trong Ramayana sẽ góp phần khám phá những nét đẹp trong tư tưởng thẩm mĩ của dân tộc Ấn. Và cuối cùng kết quả nghiên cứu của đề tài này sẽ góp phần thiết thực trong việc phổ biến văn học Ấn Độ ở ViệtNamvà phục vụ đắc lực cho công tác nghiên cứu giảng dạy văn học Ấn Độ ở các trường phổ thông. IV.  Đóng góp mới của đề tài Ramayana là một tác phẩm sử thi có giá trị văn học lớn lao, nhiều mặt. Thiên nhiên trong Ramayana hết sức phong phú và tuyệt mĩ. Nó không chỉ là thiên nhiên mà còn thể hiện tâm hồn của một Ấn Độ, thể hiện một bản sắc Phương Đông. Tuy nhiên những người nghiên cứu chỉ nghiên cứu khái quát hoặc nghiên cứu thiên nhiên chỉ để làm phương tiện biểu đạt những nội dung khác. Và có người  nghiên cứu thiên nhiên trong sử thi Ramayana với cái nhìn tôn giáo, triết học, xã hội học… Vì vậy, viiệc nghiên cứu thiên nhiên trong Ramayana một cách toàn diện và sâu sắc từ góc độ văn học, hi vọng sẽ là một đóng góp mới của đề tài. Ở đề tài này, hình tượng thiên nhiên với những tầng ý nghĩa, những giá trị văn học sẽ được khai thác khám phá để đem đến cho người đọc những cảm giác thẩm mĩ, những rung động sâu xa. Đồng thời  với đề tài “Hình tượng thiên nhiên trong sử thi Ramayana” người viết mong muốn góp thêm  một phần công sức bé nhỏ của mình để giúp cho việc nghiên cứu và phổ biến nền văn học Ấn Độ vào ViệtNam. Phương pháp nghiên cứu    Căn cứ vào đối tượng nghiên cứu đã xác định và để hoàn thành mục đích nghiên cứu, người viết đã sử dụng một hệ thống phương pháp, cụ thể như sau: Phương pháp khảo sát văn bản: Thiên nhiên được miêu tả không tập trung mà nằm rải rác khá đều đặn trong toàn bộ tác phẩm sử thi. Do đó với một kết cấu tác phẩm đồ sộ, người viết cần phải sử dụng phương pháp này để phát hiện hình tượng thiên nhiên trong sử thi Ramayana. Phương pháp phân tích tổng hợp: Để làm nổi bật các luận điểm cần triển khai, người viết sẽ phân tích các dẫn chứng. Sau đó tiến hành tổng hợp khái quát lại và đi đến khẳng định vấn đề. Phương pháp so sánh: Trong quá trình xác định thành công của tác giả về nghệ thuật xây dựng hình tượng thiên nhiên trong sử thi Ramayana, cần phải đặt tác phẩm vào trong mối quan hệ loại hình-lịch sử để so sánh với các tác phẩm cùng thời hoặc trước đó, mới thấy được sự sáng tạo của tác giả. VI. Cấu trúc luận văn Luận văn được bố cục theo các phần sau: Phần mở đầu bao gồm các mục: Lý do chọn đề tài, lịch sử vấn đề, mục đích nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, đóng góp mới của đề tài, phương pháp nghiên cứu, cấu trúc luận văn. Phần nội dung được chia làm ba chương: Chương I: Tìm hiểu chung về sử thi Ramayana. Chương II: Thiên nhiên trong Ramayana-người bạn thân thiết của con người. Chương III: Đặc sắc của nghệ thuật miêu tả thiên nhiên. Phần kết luận. Phần thư mục tài liệu tham khảo. PHẦN NỘI DUNG œ CHƯƠNG I: TÌM HIỂU CHUNG VỀ SỬ THI RAMAYANA Ramayana-câu chuyện về hoàng tử Rama Ramayana-thiên anh hùng ca của Ấn Độ, ra đời vào khoảng hai ba trăm năm trước công nguyên. Tác phẩm sử thi này gồm hai mươi bốn ngàn sloca* được viết bằng tiếng Sanskrit. Theo truyền thuyết, tác giả đầu tiên là Valmiki, một đạo sĩ Bà la môn sống vào khoảng thế kỉ V trước công nguyên. “Valmiki vốn là người thông minh, có trí nhớ kì lạ, ăn nói lưu loát, hễ xuất khẩu là thành thơ. Nhờ biệt tài đó mà thần Narađa kể cho Valmiki nghe về kì tích của hoàng tử Rama. Sau khi đã nhập tâm câu chuyện, ông đem kể lại cho các môn đệ của ông nghe bằng những vần thơ tuyệt diệu của mình”[4, trang 63]. Tuy nhiên Ramayana đã được gọt giũa trau chuốt bởi nhiều thế hệ các thi sĩ vô danh. *Câu thơ đôi  Ramayana là một thiên anh hùng ca bất hủ. Chính tác giả của nó nhà thơ Valmiki đã nói: “Chừng nào sông chưa cạn, đá chưa mòn thì anh hùng ca Ramayana còn làm say mê lòng người và có thể giải thoát họ ra khỏi vòng tội lỗi”[7, trang 265]. Thật vậy tác phẩm sử thi này có sức truyền cảm mạnh mẽ và ảnh hưởng sâu xa. Nhà văn Ấn Độ R. K. Narayan khi biên soạn sử thi này ra tiếng Anh đã viết ở lời nói đầu : “Chuyện nghe có vẻ khó tin nhưng tôi sẵn sàng nói rằng gần như từng người một trong số năm trăm triệu người sống trên  đất Ấn Độ đều say mê câu chuyện Ramayana ở nhiều mức độ khác nhau. Bất cứ tuổi nào, bất cứ quan điểm nào, học hành giáo dục ra sao, vị trí xã hội như thế nào, ai cũng biết những phần chủ yếu của bản anh hùng ca và khâm phục kính trọng những nhân vật chính của tác phẩm – Rama và Xita…Tác phẩm Ramayana ảnh hưởng tới đời sống văn hoá chúng tôi dưới hình thức này hay hình thức khác, trải qua tất các thời đại…Ramayana có thể gọi là một quyển sách triết lí trường cửu…Ramayana trở thành nguồn cảm hứng lớn nhất cho các nhà thơ Ấn Độ qua các thế kỉ”[12, trang 5-6]. Câu chuyện không chỉ ảnh hưởng sâu sắc ở Ấn Độ mà còn được lưu truyền nhiều ở Đông Nam Á, nơi có quan hệ văn hoá mật thiết với Ấn Độ. Có nhiều nước đã mượn cốt truyện này để sáng tác nên những thiên anh hùng ca mang màu sắc dân tộc phong phú và độc đáo. Tác phẩm kể lại công đức và sự nghiệp của hoàng tử Rama, được coi là hoá thân thứ bảy của thần Vishnu và là nhân vật lí tưởng của đẳng cấp Kshatria. Xã hội Ấn Độ truyền thống có bốn đẳng cấp chính: 1.Brahmin bao gồm các tu sĩ, các thầy giáo, các nhà làm luật. Họ là những nhà tư tưởng và lập pháp, đẳng cấp thống trị về tinh thần, trông coi việc thiên văn, chiêm tinh, bói toán, cúng lễ, giáo dục các tri thức tôn giáo… 2.Kshatria gồm vua chúa và các võ sĩ quí tộc, các chiến binh. Họ là tầng lớp cai trị, quản lí nhà nước, chinh chiến bảo vệ đất nước. 3.Vaisia gồm nông dân, thợ thủ công, thương nhân. Đây là những người lao động sản xuất ra của cải vật chất nuôi sống xã hội. 4.Sudra là tầng lớp tiện dân, gồm những người làm công việc tôi tớ phục vụ cho ba đẳng cấp trên. Về cơ bản, các sử thi Ấn Độ chủ yếu liên quan tới hai đẳng cấp cao nhất trong xã hội là tu sĩ Brahmin và võ sĩ quí tộc Kshatria”[17, trang 12 -13]. “Nhà vua Đaxaratha của đất nước Kôxala có bốn người con trai trong đó người con trai trưởng Rama khôi ngô tuấn tú, lòng dạ sáng trong, thông minh và tài giỏi hơn cả. Mười sáu tuổi Rama đã được đạo sĩ Vioamitra mời đi cùng diệt quỉ ác bảo vệ các thánh địa trải khắp sông Hằng. Chàng lập được nhiều chiến công, thu được vũ khí thần. Khi đến xứ Videha chàng được nhà vua Gianaka gả cho công chúa Xita vì đã giương nổi cây cung thần, một việc trước đây chưa từng ai làm được. Một ngày kia, khi vua cha già yếu muốn truyền ngôi báu cho Rama thì do lòng tham lam, đố kị thứ phi Kekêyi đã nhắc lại lời hứa trước đây, buộc Đaxaratha phải đày ải Rama vào rừng mười bốn năm và trao vương quốc cho con trai bà là Bharata. Vì danh dự và bổn phận, Rama vâng lệnh vua cha. Công chúa Xita xin theo chồng chịu lưu đày. Người em trai Lakmana cũng tự nguyện xin đi theo anh chị. Sau đó vua Đaxaratha vì quá đau khổ đã băng hà. Bharata vào tận rừng sâu mời Rama về nối nghiệp vua cha. Nhưng Rama trung thành với lời hứa một mực từ chối. Bharata đành phải quay về cai quản xã tắc nhưng sống ngoài kinh đô và luôn đặt đôi dép của Rama trên ngai vàng tỏ ý chờ đợi hoàng đế Rama thật sự trở về. Sau mười năm sống khổ hạnh trong rừng sâu, diệt trừ nhiều loài ác qủi, bảo vệ am thất của các đạo sĩ, Rama gặp một tai biến lớn. Vua quỉ Ravana lập mưu bắt cóc vợ chàng đưa về đảo Lanka. Dụ dỗ hay hành hạ, cưỡng bức đều không thể lay chuyển nổi Xita: “Trái tim ta chỉ thuộc về một mình Rama”. Mất Xita, Rama đau buồn khôn xiết. Trên đường đi tìm vợ Rama gặp và giúp đỡ vua khỉ Xugriva chống lại người anh Vali, giành lại vợ và vương quốc. Do đó chàng được vua khỉ Xugriva, tướng khỉ Hanuman cùng đoàn quân khỉ giúp sức, vượt biển, tấn công Lanka. Sau cùng Rama đánh bại Ravana trong giao tranh giải thoát Xita. Nhưng khi gặp lại Xita thì cùng một lúc chàng vừa sung sướng vừa đau xót. Nghi ngờ Xita không còn đức hạnh sau những tháng ngày trong tay quỉ, Rama tuyên bố ruồng bỏ nàng. Thanh minh không được, Xita bước lên giàn hoả thiêu. Ngọn lửa cháy ngùn ngụt nhưng không động đến nàng Xita trinh bạch. Chứng giám cho đức hạnh của nàng, thần lửa Agni đã đem nàng trả lại cho Rama. Sử thi kết thúc bằng việc họ vui vẻ trở về Ayôđhya và Rama lên ngôi cai quản đất nước khiến cho muôn dân được sống trong thịnh trị, thái bình”[5, trang 91-92]. “Đoạn sau đây thuộc phụ bản, có người cho rằng người đời sau  thêm vào: Trăm họ đang sống trong cảnh thái bình yên vui thì trong đám vương công quí tộc ở đô thành nổi lên dư luận dèm pha, chỉ trích nhà vua. Họ cho rằng một vị minh quân như Rama mà lại dung túng một người đàn bà thay lòng đổi dạ, chung chạ với quỉ sứ. Rama nghe tin đó bỗng lại nổi cơn ghen lần nữa bèn đuổi Xita vào rừng sâu trong lúc nàng đang thai nghén. *Có nghĩa là những đứa bé hát rong Mười năm sau, trong đám hội lớn của đô thành Ayôđhya có hai em bé tên là Kusa và Lava* đi đến đâu cũng hát kể kì tích của Rama, lòng chung thuỷ và nỗi niềm đau khổ của nàng Xita khiến mọi người nghe bùi ngùi xúc động. Rama nghe tin đó, gọi hai đứa bé vào cung, hỏi đầu đuôi mới nhận ra hay đứa con của mình do Xita sinh ra đã lớn lên trong rừng. Biết vậy, Rama buồn phiền hối hận đón Xita về kinh, nhưng Xita không muốn gặp lại Rama nữa mà cầu mẹ là thần Đất mở rộng luống cày đón nàng trở về lòng đất, nơi đã sinh ra nàng. Rama đau đớn van nài thần Đất, nhưng Brahma xuất hiện an ủi chàng và cho biết chàng sẽ được tái hợp trong kiếp sau ở cõi trời, trở lại với bản thân nguyên thuỷ là Visnu, thần Bảo vệ của toàn thể vũ trụ”[4, trang 67]. Ramayana là một thiên anh hùng ca hùng vĩ, tráng lệ. Ramayana còn là tập thơ giáo dục tinh thần cao thượng. Rama, Xita, Lakmana, Hanuman đều hết sức cao thượng. “Ramayana giáo dục ta sống cho chính nghĩa bất chấp hoàn cảnh khó khăn, thực là một tác phẩm cao thượng. Vinh dự thay cho một nền văn hoá giáo dục con người không phải nghĩ đến quyền lợi cá nhân mà quên mình vì đồng loại, tình thương và lòng bao dung”[12, trang 11]. Ramayana thực sự là một bảo tàng các nhân vật lí tưởng, in một dấu ấn sâu sắc trong văn học Ấn cả về phương diện đạo đức lẫn văn chương. Tác phẩm đã xây dựng nên những nhân vật toàn diện, toàn mĩ, những nhân vật lí tưởng của cuộc sống. Nếu trong Mahabharata mỗi nhân vật chỉ tượng trưng cho một phẩm chất của con người thì ở đây Rama và Xita là những con người mẫu mực khuôn vàng thước ngọc với đầy đủ mọi đức tính tốt đẹp. Rama là một anh hùng hoàn thiện. Điều đó đã được khẳng định ngay từ khi chàng được sinh ra. “Khi mặt trăng cùng Thiên Vương tinh đi vào hoàng đạo-Hoàng hậu Kôxalya sinh hạ Rama vĩ đại và thịnh đạt, có đôi cánh tay khoẻ chắc chắn, đôi mắt sắc hồng, đôi môi đỏ thắm, là niềm vui của Đaxaratha và được toàn thể dân chúng quí mến. Trên thân mình xinh đẹp của chàng có đủ mọi dấu hiệu quí tướng”[12, trang 42]. Và tài năng của chàng thật xuất chúng, đức hạnh thật toàn diện. “Riêng Rama hùng mạnh vô song thì tính cách không tì vết như trăng rằm, là niềm vui sướng của những ai nom thấy chàng. Chàng là một trang kị mã lão luyện, một tay điều khiển xe thành thục và có thể cưỡi voi. Chàng là một tay bắn cung bậc thầy  và không hề xao nhãng mảy may việc luyện tập võ nghệ cũng như sớm khuya phụng dưỡng cha già”[12, trang 43]. Toàn thiện toàn mĩ như vậy cho nên Rama toả sáng như ánh mặt trời ban trưa khiến cha vui lòng và đem lại lợi lộc cho dân chúng. Và trần thế mong muốn Rama là chúa tể của mình”[12, trang 94]. Quả thật Rama là một anh hùng giàu có, hùng mạnh về vật chất, thanh cao trong sạch về tâm hồn, nồng nàn tình yêu và vĩ đại siêu nhiên như thần thánh. Chàng xứng đáng ở ngôi vị chí tôn cai quản nhân dân sống trong thanh bình thịnh trị. *Xita Bên cạnh chàng là nàng Xita, con gái của thần Đất, hiền hoà xinh đẹp và thuỷ chung. “Khuôn mặt Gianaki* đẹp như một vầng trăng đầy, bộ ngực duyên dáng và tròn trĩnh. Vẻ đẹp sáng ngời của nàng soi rọi vào bóng tối nơi đây. Cổ nàng có sắc da màu kem bóng loáng, đôi môi thắm đỏ như quả bimba chín, thắt lưng thon mảnh và dáng điệu của nàng duyên dáng yểu điệu mê hồn. Nàng đem lại niềm vui thích cho thế gian cũng như mảnh trăng tròn đầy”[13, trang 158]. Nàng là người phụ nữ mẫu mực, người phụ nữ toàn bích. Nàng đã từ bỏ cuộc sống vương giả nơi hoàng cung, một mực đi theo Rama vào rừng cùng chia sẻ số phận với chồng. Nàng đã khẳng khái “Em đi theo chồng trong lúc thịnh đạt cũng như trong nghịch cảnh. Nếu chàng đi vào rừng thì em sẽ đi trước anh và chân em sẽ dẫm đạp gai góc để dẫn đường”[12, trang 142]. Xita đã trở thành tấm gương của mọi phụ nữ Ấn. Vì vậy nhân dân Ấn Độ từ đời này sang đời khác liên tiếp ca ngợi Rama và Xita. “Cùng với hình ảnh những con người toàn thiện toàn mĩ, sử thi này còn quan tâm nhiều hơn đến cuộc đấu tranh giữa thiện-ác, ánh sáng-bóng tối, chính nghĩa-phi nghĩa trong mỗi con người. Thử thách đặt ra cho mỗi nhân vật chủ yếu là sự lựa chọn hành động trong những hoàn cảnh có xung đột gay gắt giữa đòi hỏi của bản thân và quyền lợi của người khác, giữa quyền lợi vật chất trực tiếp và đạo đức. Trong ngày lễ phong vương,  Rama vâng lệnh lưu đày; nàng công chúa Xita cởi bỏ nhung lụa, bận quần áo vỏ cây, kiên quyết sẻ chia gian khổ cùng chồng; Bharata vào rừng khăng khăng trả lại vương quốc cho anh… Nhân vật lí tưởng là người luôn lùi bước trước những hành động không xứng đáng với danh dự và bổn phận, luôn lấy tinh thần cao thượng và trầm tĩnh để làm thăng bằng sự thuần phục của họ. Tác phẩm hào hùng và tràn đầy nước mắt này vì vậy dấy lên những xúc động sâu xa và thanh lọc tâm hồn. Dường như chỉ một điểm ấy thôi cũng đủ để lí giải sức hấp dẫn mãnh liệt và vĩnh cửu của nó”[5, trang 92]. Trong thiên sử thi này chúng ta còn thấy được một tình yêu say đắm, nồng nàn, thuỷ chung giữa Rama và Xita. “Tình yêu của họ được đưa lên đỉnh cao tuyệt mĩ và cũng chịu trầm luân trong hố thẳm của hận sầu thiên thu”[11, trang 124]. Tình yêu của họ làm cho bản anh hùng ca càng trở nên lãng mạn và hấp dẫn. Điều cuối cùng ta cũng phải nói đến trí tưởng tượng mang tính chất thần thoại, tài năng nghệ thuật của tác giả. Thi ca Ấn Độ vốn dĩ tráng lệ  hùng vĩ nhưng không ở đâu hùng vĩ  tráng lệ như  Valmiki.

File đính kèm:

  • docgiao an.doc