Đề tài Sử dụng phương pháp trắc nghiệm trong kiểm tra và đánh giá kết quả học tập môn vật lý THPT

- Trong nhiều năm học vừa qua, một số truờng Đại học như ĐHQG TP. Hồ Chí Minh, ĐH Tây Nguyên, ĐH Dân Lập Đông Đô đã áp dụng thi tuyển bằng phương pháp trắc nghiệm khách quan. Phương pháp này đã được ứng dụng rộng rãi trên thế giới và những năm gần đây đã bắt đầu đựoc sử dụng hiệu quả trên một số lĩnh vực ở nứơc ta.

Tại hội nghị toàn quốc về giáo dục ĐH 10/2001 Bộ GD & ĐT cũng đã đề nghị các trường ĐH đẩy mạnh hơn nữa hình thức tuyển sinh bằng phương pháp khoa học này. Ngoài ra nhằm mục đích đổi mới tổng thể về giáo dục trong đó có đổi mới phương pháp kiểm tra dánh giá, Bộ GD & ĐT đã có sự đổi mới mạnh mẽ phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập học sinh ở trên tất cả các cấp học, trong đó đặc biệt chú trọng là cấp THPT. Năm học 2005 – 2006 là năm đàu tiên Bộ GD & ĐT tiến hành thi tốt nghiệp THPT bằng hình thức trắc nghiệm môn Ngoại ngữ. Với kết quả đã đạt đựơc của kỳ thi này đã khẳng định ưu điểm nổi bật của hình thức thi trắc nghiệm.

 

doc12 trang | Chia sẻ: maiphuongtl | Ngày: 21/11/2014 | Lượt xem: 1058 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Sử dụng phương pháp trắc nghiệm trong kiểm tra và đánh giá kết quả học tập môn vật lý THPT, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Sở giáo dục đào tạo quảng ninh Trường THPT dân lập đông triều -------------o0o------------- Đề tài Sử dụng phương pháp trắc nghiệm trong kiểm tra và đánh giá kết quả học tập môn vật lý THPt Người viết đề tài: Đặng quốc An Tổ: Toán Lý Năm học 2005 – 2006 Phần I. Mở đầu I. Lý do chọn đề tài. - Trong nhiều năm học vừa qua, một số truờng Đại học như ĐHQG TP. Hồ Chí Minh, ĐH Tây Nguyên, ĐH Dân Lập Đông Đô… đã áp dụng thi tuyển bằng phương pháp trắc nghiệm khách quan. Phương pháp này đã được ứng dụng rộng rãi trên thế giới và những năm gần đây đã bắt đầu đựoc sử dụng hiệu quả trên một số lĩnh vực ở nứơc ta. Tại hội nghị toàn quốc về giáo dục ĐH 10/2001 Bộ GD & ĐT cũng đã đề nghị các trường ĐH đẩy mạnh hơn nữa hình thức tuyển sinh bằng phương pháp khoa học này. Ngoài ra nhằm mục đích đổi mới tổng thể về giáo dục trong đó có đổi mới phương pháp kiểm tra dánh giá, Bộ GD & ĐT đã có sự đổi mới mạnh mẽ phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập học sinh ở trên tất cả các cấp học, trong đó đặc biệt chú trọng là cấp THPT. Năm học 2005 – 2006 là năm đàu tiên Bộ GD & ĐT tiến hành thi tốt nghiệp THPT bằng hình thức trắc nghiệm môn Ngoại ngữ. Với kết quả đã đạt đựơc của kỳ thi này đã khẳng định ưu điểm nổi bật của hình thức thi trắc nghiệm. Nhằm mục đích chuẩn bị tốt cho việc đổi mới giáo dục cũng như góp phần nâng cao chất lượng dạy và học trong những năm vừa qua trường THPT dân lập Đông Triều – Quảng Ninh đẫ tiến hành dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh theo hình thức trắc nghiệm. Nhận thức được vấn đề về lý luận cũng như yêu cầu đặt ra từ thực tế giảng dạy bộ môn Vật lý tại trường THPT dân lập Đông Triều. Tôi đã vận dụng và áp dụng phương pháp học và thi trắc nghiệm trong quá triình giảng dạy, cụ thể là ở các lớp khối 10, 12. Bên cạnh một ssó hạn chế như; không phát huy được hết trình độ và kỹ năng của người viết, yếu tố may mắn do học sinh “đoán mò”. Phương pháp trắc nghiệm khách quan có những ưu điểm lớn là; kết quả đánh giá khách quan có độ tin cậy cao, nội dung đánh giá rộng, quá trình đánh giá nhanh chóng… Thực tế, qua quá trình giảng dạy, tự rút ra kinh nghiệm bản thân, tham khảo ý kiến đồng nghiệp tôi nhận thấy chất lượng và kết quả học tập của học sinh được nâng cao. Đặc biệt học sinh có sự hứng thú với việc học và thi trắc nghiệm, đây là một ưu điểm lớn đối với đối tượng học sinh dân lập, là học sinh có đầu vào thấp và một số chưa thực sự quan tâm nhiều đến học tập. Dưới đây tôi xin trình bày một vài kinh nghiệm của mình trong đề tài: Sử dụng phương pháp trắc nghiệm và kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Vật lý THPT, với hy vọng đây sẽ là một tài liệu tham khảo cho các đồng nghiệp, cũng như góp phần nâng cao chất lượng học tập môn Vật lý tại trường THPT dân lập Đông Triều. II. Mục đích của đề tài. - Nhằm góp phần đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh theo hướng tích cực hơn, chính xác hơn. - Góp phần hình thành lòng say mê, sự hào hứng học tập môn Vật lý, từ đó phát triển năng lực cho học sinh. - Ngoài ra đề tài còn có thể là một tài liệu tham khảo cho các bạn đồng nghiệp. III. Đối tượng áp dụng. - Học sinh trong toàn trường, các lớp 10,11,12. IV. Tài liệu tham khảo. 1. SGK, SGV các lớp 10, 11, 12 cũ và mới. 2. Một số tài liệu tham khảo: + Luyện thi trắc nghiệm Vật lý - TS. Nguyễn Phụng Hoàng - NXB GD. + Câu hỏi và bài tập trắc nghiệm Vật lý 10, 11, 12 NXB ĐHSP. + Luyện thi trắc nghiệm Vật lý - Nguyễn Tiến Hùng - NXB Đà Nẵng. 3. Một số tài liệu, tư liệu khác. Phần II. Nội dung I. Nội dung đề tài. Như tên đề tài đã dẫn đó là: “Sử dụng phương pháp trắc nghiệm trong miểm tra và đánh giá kết quả học tập môn Vật lý THPT”. Để việc kiểm tra đánh giá kết quả tốt cần lưu ý hai điểm chính. Thứ nhất, trong quá trình giảng dạy, giáo viên phải sử dụng phương pháp trắc nghiệm, có thể khâu kiểm tra bài cũ, khâu củng cố hoặc trong suốt tiến trình giảng dạy. Thứ hai, giáo viên phải chuẩn bị một hệ thống câu hỏi có chất lượng, đạt chuẩn nhằm giúp học sinh có điều kiện luyện tập và kiểm tra thường xuyên. 1. Phương pháp học tập và làm bài thi, trắc nghiệm khách quan. Trong phương pháp kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của học sinh, các câu hỏi đặt ra có thể đo các mức trí lực khác nhau. 1.1. Mức biết. Theo định nghĩa, mức Biết bao gồm việc có thể nhớ lại các điều đặc biệt hoặc tổng quát, nhớ lại các phương pháp – quá trình, nhớ lại một dạng thức, một cấu trúc, một mô hình mà học sinh đã có lần gặp trong quá khứ ở lớp học, trong sách vở, hoặc ngoài thực tế. Như vậy, khi thi, học sinh chỉ cần nhớ lại đúng điều đề cập trong câu hỏi. Sự việc nhớ lại có thể xẩy ra trọn vẹn hoặc một phần, nguyên dạng đã học, hoặc dưới một dạng đã thay đổi ít nhiều. Trong giáo dục, người ta còn phân biệt ra ba loại: (1) Biết các điều đặc biệt; (2) Biết các phương cách và phương tiện để đối phó với các vấn đề đặc biệt; (3) Biết các điều tổng quát và trừu tượng trong một lãnh vực. 1.2. Mức hiểu. ở mức trí lực thứ hai, mức Hiểu, học sinh biết được giáo viên đang nói gì khi giảng bài, một trang sách, một bài viết có ý nghĩa gì, hoặc một thí nghiệm minh họa đang xẩy ra như thế nào và vì sao. ở mức trí lực này, không những học sinh có thể nhớ lại và phát biểu lại nguyên dạng vấn đề đã học, mà còn có thể thay đỏi vấn đề đã học sang một dạng vấn đề đã học, mà còn có thể thay đổi vấn đề đã học sang một dạng khác tương đương nhưng có ý nghĩa hơn đối với mình. Trong giáo dục, người ta còn phân biệt ra ba loại: (1) Diễn dịch; (2) Giải thích; (3) Ngoại suy. Khả năng Diễn Dịch được biểu thị chỗ học sinh có thể diễn đạt lại những điều đã học bằng lời lẽ riêng của mình, hoặc dưới một dạng khác, với điều kiện bảo toàn được ý nghĩa ban đầu. Khả năng Giải Thích bao gồm khả năng có thể giải thích hay tóm tắt những điều đã học, sắp đặt lại hay trình bày lại điều đã học theo cách nhìn mới. Thí dụ khả năng diễn đạt tư tưởng chính trong một đoạn văn, hoặc khả năng có thể giải thích các số liệu thu thập được trong một thí nghiệm. Khả năng Ngoại Suy bao gồm khả năng học sinh có thể suy đoán qua dữ kiện thu thập được các chiều hướng, khuynh hướng, hệ quả, hiệu ứng có thể có bên ngoài phạm vi số liệu đã cho. 1.3. Mức áp dụng. Mức trí năng tổng quát thứ ba này bao gồm việc ứng dụng các điều trừu tượng đã học vào các trường hợp đặc biệt, cụ thể. Thí dụ áp dụng các định luật khoa học để giải thích các hiện tượng riêng rẽ. 1.4. Mức phân tích. Mức trí năng thứ tư gồm việc phân tích các điều đã học hỏi thành nhiều phần, nhiều yếu tố, sắp xếp thứ tự hoặc ngôi thứ của các yếu tố ấy, tìm hệ thức có thể có giữa các ý tưởng để là sáng tỏ những điều đã học hỏi một cách có hệ thống. Thí dụ, khả năng phân tích các phần tử, yếu tố trong một bài toán, phân tích các hệ thức, phân tích các nguyên tắc tổ chức. 1.5. Mức tổng hợp. Mức trí năng thứ năm bao gồm khả năng đi từ các phần riêng rẽ đã học để sắp xếp, tổng hợp thành một cấu trúc, một dạng thức, một tổng thể gắn liền tất cả các phần ấy v ới nhau, với điều kiện sự tổng hợp này chưa hề được trình bày trong bài học. 1.6. Mức thẩm định. Mức này tương đối ít gặp trong trường hợp các bài thi ở THPT, nhưng thường gặp hơn đối với sinh viên, liên quan đến khả ănng có thể phán đoán giá trị của các tài liệu, các phương pháp, đối với những mục đích nhất định nào đó, xem thử tài liệu ấy hoặc phương pháp ấy có hội đủ những tiêu chí đề ra không. Các tiêu chí đánh giá có thể do học sinh đặt ra hoặc đã cho sẵn, học sinh khá giỏi có thể lưu ý tiêu chí này. Như vậy, thái độ đúng đắn của học sinh khi chuẩn bị thi theo phương pháp trắc nghiệm là phải học kỹ, có suy luận, chứ không học tủ, học thuộc lòng các chi tiết: “Chuyên viên lắp ghép A, B, C, D”. Đồng thời giáo viên trong quá trình giảng dạy cũng cần có sự phân luồng kiến thức theo các mức trí lực như trên. Hệ thống câu hỏi cần theo các cấp độ từ dễ đến trung bình đến khó để phù hợp với các mức trí lực của học sinh. * Câu hỏi ứng dụng với mức biết. VD1: Công thức nào sau đây là đúng với công thức tính đường đi của vật chuyển động thẳng đều? A. B. C. D. VD2: Công thức tính chu kì của con lắc đơn. A. T = 2 P B. T = 2 P C. T = mg D. T = * Câu hỏi ứng với mức hiểu. VD1: Trong chuyển động thẳng biến đổi đều của một vật, giá trị vận tốc lớn nhất là Vmax , nhỏ nhất là Vmin , vận tốc trung bình là VTB, điều khẳng định nào sau đây là đúng? A. VTB ³ Vmin C. Vmax > VTB > Vmin B. VTB Ê Vmax D. Vmax ³ VTB ³ Vmin VD2: Độ lớn vận tốc của vật DĐĐH có giá trị cực đại tại thời điểm t. Thời điểm ấy có thể nhận giá trị nào trong các giá trị sau đây? A. t = 0 C. t = T B. D. Khi vận tốc qua VTCB * Câu hỏi ứng với mức áp dụng. VD1: Hai xe chuyển thẳng đều từ A đến B cách nhau 60km. Xe (I) có vận tốc 20km/h và đi liên tục không nghỉ. Xe (II) khởi hành sớm hơn 1 giờ nhưng ở dọc đường phải nghỉ 1 giờ 30 phút. Hỏi xe (II) phải có vận tốc nào để đi tới B cùng lúc với xe (I). Chọn kết quả đúng trong các kết quả sau: A. 20 km/h B. 24km/h C. 30km/h D. 36km/h VD2: Một vật có khối lượng 1kg dao động điều hoà theo phương nằm ngang với chu kì T = 2(s). Nó đi qua VTCB với vận tốc V0 = 10 (Cm/s). Chọn t = 0 lúc vật đi qua VTCB theo chiều dương. Phương trình dao động đúng của vật là: A. x = 10 sin (t + ) (cm) C. x = (cm) B. x = (cm) D. x = (cm) * Câu hỏi ứng với mức phân tích tổng hợp. VD1: Một con lắc đơn có chiều dài l1 dao động với chu kì T1, chiều dài l2 dao động với chu kì T2. Hỏi khi nó có chiều dài (l1 + l2) thì biểu thức tính chu kì T là: A. T = T1 + T2 C. T = ệ T12 + T22 B. T = T1 . T2 D. T = T12 + T22 VD2: Điều nào sau đây là sai khi nói về trọng lực? A. Trọng lực xác định bởi biểu thức P = mg B. Trọng lực tác dụng là một vật thay đổi theo vị trí của vật trên trái đát. C. Trọng lực tác dụng lên vật tỉ lệ nghịch với khối lượng của chúng. D. Trọng lực là lực hút của trái đất tác dụng là vật. 2. Các dạng câu hỏi trắc nghiệm khách quan. - Có 4 dạng chính. Mỗi dạng gồm 2 phần: phần hỏi và phần trả lời. Dạng 1. Hình thức thông thường. - Phần hỏi: Là 1 câu hỏi trực tiếp hay bỏ lửng. - Phần trả lời: Gồm 4 ý A, B, C, D. Học sinh chọn câu trả lời đúng (hay đúng nhất), câu trả lời sai tuỳ vào yêu cầu của đề. VD1. Điều nào sau đây là đúng khi nói về đơn vị của vận tốc? A. Đơn vị của vận tốc cho biết tốc độ chuyển động của vật. B. Đơn vị của vận tốc luôn là m/s. C. Đơn vị của vận tốc phụ thuộc vào cách chọn đơn vị của độ dài đường đi và đơn vị của thời gian. D. Trọng hệ SI, đơn vị của vận là m/s. VD2. Điều nào sau đây là đúng khi nói về toạ độ của một vật chuyển động thẳng đều? A. Toạ độ của vật luôn thay đổi theo thời gian. B. Toạ độ của vật có thể dương, âm hoặc bằng không. C. Toạ độ của vật biến thiên theo hàm số bậc nhất với thời gian. D. Các phát biểu A, B, C đều đúng. VD3. Điều nào sau đây là sai khi nói về sự rơi tự do của vật? A. Sự rơi tự do là sự rơi của các vật trong chân không, chỉ dưới tác dụng của trọng lực. B. Các vật rơi tự do tại cùng một nơi thì có gia tốc như nhau. C. Trong quá trình rơi tự do, vận tốc của vật giảm dần theo thời gian. D. Trong quá trình rơi tự do, gia tốc của vật không đổi cả về hướng và độ lớn. Dạng 2. Hình thức kết hợp. - Phần hỏi: Nêu 1 số dữ kiện (I), (II),… - Phần trả lời: Gồm 4 câu tập hợp 1 hay nhiều dữ kiện, học sinh chọn câu trả lời thích hợp. VD1: Phải có điều kiện nào sau đây thì dao động của con lắc đơn được duy trì với biên độ không đổi? A. không có ma sát. B. Tác dụng lực ngoài tuần hoàn lên con lắc. C. Con lắc thực hiện dao động nhỏ. D. A hoặc B. VD2: Xét các mạch điện sau: Mạch I chỉ chứa điển trở thuần R. Mạch II gồm R và cuộc dây thuần cảm L mắc nối tiếp. Mạch III gồm R và tụ C ghép nối tiếp. Mạch IV. Gồm R, L, C mắc nối tiếp xảy ra cộng hưởng. Các mạch có cùng công suất tiêu thụ khi đặt dưới cùng một hiệu điện thế xoay chiều là: A. I và II C. I và IV B. II và III D. I và III Dạng 3. Hình thức điều khuyết hay điều thế. - Phần hỏi: Gồm một phát biểu còn trống 1 phần (…..) hay 1 phát biểu trọn vẹn nhưng có phần gạch dưới có thể đúng hay sai. - Phần trả lời: Gồm 4 phần chọn điều vào phần trống hay phần gạch dưới để phát biểu đúng nhất. Chọn cụm từ đúng nhất điều vào chỗ trống trong câu sau: A. Đều C. Chậm đều đều B. Nhanh đều đều D. Thẳng đều VD1: Chuyển động…………..là chuyển động có độ lớn vận tốc không đổi theo thời gian. VD2: Chuyển động…………..là chuyển động có vectơ vận tốc không đổi theo thời gian. VD3: Chuyển động của vật rơi tự do là chuyển động……………………. VD4: Trong chuyển động………………vận tốc của vật giảm theo hàm số bậc nhất với thời gian. Dạng 4. Hình thức ghép. - Phần hỏi: Gồm 2 phát biểu (I), (II) có thể đúng, có thể sai với phát biểu (II) dùng để giải thích phát biểu(I). - Phần trả lời: Gồm 4 phần để chọn. VD: Theo các quy tắc sau: (I) và (II) là các mệnh đề. A. Các phát biểu I và II đều đúng, hai phát biểu có tương quan. B. Các phát biểu I và II đều đúng, nhưng không tương quan. C. Phát biểu I đúng, phát biểu II sai. D. Phát biểu I sai, phát biểu II đúng. Hãy trả lời các câu hỏi sau. VD1: (I) Trong điều kiện bỏ qua mọi lực cản thì dao động của con lắc đơn luôn là DĐĐH, có biên độ không đổi. Vì (II) nếu không có lực cản thì cơ năng của con lắc được bảo tonà. VD2: (I) Khi nhiệt độ tăng thì đồng hồ quả lắc chạy chậm. Vì (II) Chu kì của con lắc tỉ lệ với nhiệt độ. VD3: (I) Nếu nhiệt độ không thay đổi, càng lên cao chu kì dao động của can lắc đơn càng tăng. Vì (II) Gia tốc trọng trường nghịch biến với độ cao. VD4: (I) Một vật càng nhẹ treo vào 1 lò xo càng cứng thì dao động càng nhanh. Vì (II) Chu kì dao động của vật treo vào lò xo tỉ lệ thuận với khối lựơng của vật và tỉ lệ nghịch với độ cứng của lò xo. II. Kết quả đạt được. Qua quá trình giảng dạy, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập bộ môn Vật lý tại trường THPT Dân lập Đông Triều theo phương pháp trắc nghiệm khách quan, tôi nhận thấy: - Bứơc đầu gây được sự hứng thú học bộ môn học và niềm say mê trong học sinh (Từ học sinh yếu đến học sinh khá, giỏi). - Phát huy được năng lực tích cực, tự giác trong học tập của học sinh. - Kết quả kiểm tra, đánh giá, cuối kì, cuối năm đạt kết quả tích cực, chính xác. - Học sinh có điều kiện rèn luyện, luyện tập theo phương pháp trắc nghiệm, tạo tiêu đề tốt cho vịêc thi tốt ở các kì thi sau này. - Kết quả học tập của học sinh được nâng lên rõ rệt. * Kết quả cụ thể. Trong năm học 2005 – 2006, tôi được phân công giảng dạy ở các lớp 10A1, 12C2, 12C5, 12C7. Kết quả đạt được cụ thể như sau: Lớp Yếu Trung bình Khá Giỏi 10A1 (49 H/s) 0 = 0% 10 = 26,6% 30 = 61,2% 6 = 12,2% 12C2 (50 H/s) 1 = 2% 47 = 94% 2 = 4% 0 = 0% 12C5 (52 H/s) 1 = 1,9% 41 = 79,1% 10 = 19,2% 0 = 0% 12C7 (46 H/s) 0 = 0% 29 = 63,1% 15 = 32,6% 2 = 4,3% Tổng cộng (197) 2 = 1% 127 = 66% 57 = 28,9% 8 = 4,1% III. Kết luận: Đổi mới giáo dục toàn diện trong đó đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập học sinh không còn là vấn đề lý luận mà đẫ trở thành thực tiễn cấp bách đặt ra trong sự nghiệp, giáo dục hiện nay. Mỗi người giáo viên cần phải nhận thức sâu sắc vấn đề đó để có sự điều chỉnh, thay đổi phương pháp giảng dạy cho phù hợp với xu thế giáo dục chung, góp phần cải thịên và nâng cao chất lựơng giảng dạy bộ môn. Để làm tốt việc này, cần lưu ý các điểm sau: - Mỗi giáo viên bộ môn cần chuẩn bị tốt một bộ câu hỏi trắc nghiệm, cùng với các giáo viên giảng dạy bộ môn khác tập hợp bị thành ngân hàng câu hỏi. Các câu hỏi được dàn trải hết chương trình, theo cấp độ từ dễ đến khó, theo đầy đủ các dạng khác nhau. Các câu hỏi nhiều về số lượng, sâu về chất lựơng, sẽ góp phần kiểm tra, đánh giá kết quả học sinh chính xác hơn. - Trong quá trình giảng dạy, giáo viên cần kết hợp cả phương pháp cũ với phương pháp mới, phát huy hết ưu điểm của mỗi phương pháp. - Giáo viên có thể huy động học sinh tích cực tham gia. Trong một số giờ luyện tập, thảo luận có thể thay đổi bằng cách cho học sinh đặt câu hỏi, học sinh khác hoặc giáo viên trả lời. Việc này vừa có điều kiện giúp học sinh tích cực học, vừa thu thập thêm câu hỏi làm phong phú ngân hàng câu hỏi. - Việc kiểm tra đánh giá bằng phương pháp trắc nghiệm phải được tiến hành đồng bộ, sâu rộng và phải coi là vấn đề mang tính bức thiết. Trên đây là một số kết quả bước đầu trong quá trình tìm hiểu lý luận và vận dụng vào thực tiễn giảng dạy của tôi tại trường THPT Dân lập Đông Triều. Song do thời gian còn hạn chế nên đề tài còn chưa đạt chất lựơng như ý muốn. Rất mong đây sẽ là một tài liệu mang tính tham khảo nhằm đưa ra trao đổi, rút kinh nghiệm, tạo điều kiện cho việc nâng cao chất lượng dạy và học. Rất mong sẽ nhận được sự đóng góp ý kiến chân thành từ các bạn đồng nghiệp, tổ chuyên môn và ban giám hiệu nhà trường để tôi sớm hoàn thiện được mình, đáp ứng yêu cầu của việc dạy học theo phương pháp mới trong xu thế xã hội hiện nay. Đông Triều, ngày 15 tháng 06 năm 2006 người viết đề tài Đặng Quốc An

File đính kèm:

  • docsang kien kinh nghiem.doc