Một số đề tham khảo liên quan đến bài Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên

 

Anh ( chị ) hãy nêu chủ đề của bài thơ Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên và đi sâu bình giảng khổ thơ sau trong cùng bài:

Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ

Khi nào qua, lòng lại chẳng yêu thương ?

Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở

Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn !

 

Đề này có hai yêu cầu:

- Nêu chủ đề bài thơ.

- Bình giảng khổ thơ. Khi bình giảng nên cắt thành 2 - 2:

+ Nhớ Tây Bắc xa xôi, nhớ bản, nhớ đèo trong hoài niệm một thời gian khổ ( bản sương giăng, đèo mây phủ ). Nhớ tha thiết với tất cả tình yêu thương ( điệp từ nhớ ).

+ Những suy nghĩ được nâng lên thành triết lí về mối quan hệ giữa con người và cuộc sống. Bài học về ứng xử, về đạo lí sống tình nghĩa thủy chung ở đời. Cấu trúc song hành đối xứng, vẻ đẹp trí tuệ sắc sảo.

 

 

doc3 trang | Chia sẻ: luyenbuitvga | Ngày: 25/02/2014 | Lượt xem: 1161 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Một số đề tham khảo liên quan đến bài Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Một số đề tham khảo liờn quan đến bài Tiếng hỏt con tàu của Chế Lan Viờn * * * STT Đề bài Những ý chớnh cần cú 1 Anh ( chị ) hãy nêu chủ đề của bài thơ Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên và đi sâu bình giảng khổ thơ sau trong cùng bài: Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ Khi nào qua, lòng lại chẳng yêu thương ? Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn ! Đề này có hai yêu cầu: - Nêu chủ đề bài thơ. - Bình giảng khổ thơ. Khi bình giảng nên cắt thành 2 - 2: + Nhớ Tây Bắc xa xôi, nhớ bản, nhớ đèo trong hoài niệm một thời gian khổ ( bản sương giăng, đèo mây phủ ). Nhớ tha thiết với tất cả tình yêu thương ( điệp từ nhớ ). + Những suy nghĩ được nâng lên thành triết lí về mối quan hệ giữa con người và cuộc sống. Bài học về ứng xử, về đạo lí sống tình nghĩa thủy chung ở đời. Cấu trúc song hành đối xứng, vẻ đẹp trí tuệ sắc sảo. 2 Bình giảng khổ thơ sau trong bài thơ Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên: Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ Cỏ non giêng hai, chim én gặp mùa Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa. - Kiểu bài: bình giảng một đoạn thơ. - Giới thiệu một vài nét ngắn về thơ Chế Lan Viên, bài Tiếng hát con tàu và vị trí khổ thơ phải bình giảng. - ý chủ đạo của đoạn thơ: gặp lại nhân dân là được sống trong ngọn nguồn hạnh phúc. - Giảng và bình được 5 hình ảnh so sánh ẩn dụ Con gặp lại nhân dân như: + Nai về suối cũ. + Cỏ đón giêng hai ( cỏ mùa xuân ). + én gặp mùa ( xuân ). + Trẻ thơ đói lòng gặp sữa. + Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa. Chỉ ra được cái hay, cái đẹp, cái sáng tạo về ý thơ và ngôn ngữ, hình ảnh thơ. Gặp lại nhân dân là được sống trong yêu thương tình nghĩa, được tiếp sức mà thêm đẹp, thêm phát triển, đáp ứng, thỏa mãn mọi chờ mong, khao khát, được chăm sóc vỗ về,... Có hình tượng thiên nhiên, có hình tượng về con người, về cõi đời. Rất đa dạng, độc đáo. Thơ hàm chứa chất suy tưởng, triết lí, giàu hình tượng và cảm động. 3 Phân tích đoạn thơ sau trong bài Tiếng hát con tàu ( Chế Lan Viên ) để làm rõ những tình cảm sâu nặng của tác giả với nhân dân: Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa ... Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn ! ( Đề thi đại học, cao đẳng năm 2004 ) * Nêu khái quát về tác giả và tác phẩm, đoạn trích: - Tác giả: nhà thơ lớn của thơ ca hiện đại. Chuyển biến từ nhà thơ lãng mạn thành thơ cách mạng. Thơ ông giàu chất trí tuệ, chất sử thi, hình ảnh tráng lệ,... - Tác phẩm: là bài thơ xuất sắc của Chế Lan Viên, ra đời trong không khí miền Bắc đang dấy lên phong trào đồng bào miền xuôi lên phát triển kinh tế - văn hóa miền núi, trong đó có Tây Bắc. Nội dung nổi bật nhất là bày tỏ tình cảm sâu nặng của mình đối với nhân dân. Rất tiêu biểu cho phong cách thơ giàu chất trí tuệ của Chế Lan Viên,... - Đoạn trích: + Nội dung bao trùm: bày tỏ tình cảm sâu nặng với nhân dân và suy tư sâu sắc về những chuyển hóa kì diệu của tâm hồn. + Trình tự mạch thơ: đoạn trích có ba phần khá rõ rệt. Khổ thơ đầu bày tỏ niềm hạnh phúc lớn lao khi được về với nhân dân, ba khổ thơ tiếp theo hồi tưởng về những hi sinh đầy ân tình ân nghĩa của người dân Tây Bắc, khổ thơ cuối đúc kết thành triết lí về sự chuyển hóa kì diệu của tâm hồn con người. * Phân tích cụ thể: - Khổ thơ đầu ( của đoạn trích ): + Tình cảm bao trùm là lòng biết ơn sâu nặng và niềm hạnh phúc lớn lao của cái tôi từ tình khi từ bỏ thế giới nhỏ hẹp của cá nhân dể về với nhân dân. Đối với người con ở đây, nhân dân là những gì thân thương mật thiết, là ngọn nguồn sự sống, là bầu sinh khí, là nguồn sinh lực, luôn cưu mang, che chở, tiếp sức,... Cho nên về với nhân dân là một lẽ sống lớn, một hạnh phúc lớn. Phân tích được ý nghĩa đó trong các cặp hình ảnh: Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ; cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa; đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa; chiếc nôi ngừng bồng gặp cánh tay đưa,... Cần thấy rõ đó cũng chính là mối quan hệ thiêng liêng giữa cá nhân và cộng đồng giữa con người và cuộc sống nói cung. + Nghệ thuật nổi bật là việc tạo ra những cặp hình ảnh giàu tính tượng trưng, mỗi cặp một sắc thái khác nhau: nai - suối cũ, cỏ - tháng giêng, chim én - mùa xuân, chiếc nôi ngừng - cánh tay đưa, cơn khát trẻ thơ - bầu sữa mẹ. Đồng thời, chú ý cả tính trùng điệp của chuỗi so sánh dài ấy, tạo nên kiểu so sánh trùng điệp. Nhờ đó mà cảm xúc thêm nồng nàn, suy tư thêm sâu sắc. - Ba khổ thơ tiếp theo ( của đoạn trích ): + Tình cảm bao trùm là nỗi nhớ da diết về những kỉ niệm với Tây Bắc của một người con luôn khắc cốt ghi tâm bao ơn nghĩa. Nhớ về những việc làm đầy hi sinh, đùm bọc, cưu mang rất cụ thể của người anh ( cho tấm áo trước lúc hi sinh ), người em liên lạc ( mười năm liền tận tụy miệt mài ), người mẹ ( thức suốt một mùa dài để ân cần chăm sóc ). Phân tích những hình ảnh cảm động: Chiếc áo nâu anh mặc đêm công đồn - Chiếc áo nâu suốt một đời vá rách - Đêm cuối cùng anh cởi lại cho con, Rừng thưa em băng, rừng rậm em chờ... Mười năm tròn chưa mất một phong thư, Lửa hồng soi tóc bạc - Năm con đau mế thức một mùa dài,... và những tâm nguyện đinh ninh: Con với mế không phải hòn máu cắt - Nhưng trọn đời con nhớ nhớ mãi ơn nuôi. + Nét nghệ thuật nổi bật ở đây là việc tạo ra nhiều hình ảnh chân thực, gây được ấn tượng mạnh. Hình ảnh được tạo bằng bút pháp đối lập nhuần nhuyễn: chiếc áo nâu - một đời vá rách, mười năm tròn - một phong thư, lửa hồng - tóc bạc, năm con đau - mế thức một mùa dài,... Đồng thời, là cách xưng hô theo quan hệ máu mủ ruột thịt: anh con, em con, mế. Nhờ những nét nghệ thuật ấy mà hình ảnh sắc nét, lời thơ thấm thía, cảm xúc da diết,... - Khổ thơ cuối ( của đoạn trích ): + Bao trùm lên khổ thơ này là niềm nhớ thương đằm thắm, sâu nặng với những miền quê mình đã từng qua với lời nhớ thương, lời khẳng định, cùng với những hình ảnh thân thương: Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ - Nơi nào qua lòng lại chẳng yêu thương. Đồng thời là suy tư sâu sắc về những chuyển hóa kì diệu của tâm hồn con người được đúc kết thành triết lí: Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở - Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn. Đó là điều kì diệu mà tình cảm con người đã làm được để biến kỉ niệm với những miền đất mình từng qua thành tâm hồn của chính mình. + Đoạn này, thủ pháp trùng điệp tiếp tục được sử dụng, với các điệp từ, điệp ngữ: Nhớ ... nhớ ..., Khi ta ... khi ta ... Nhưng quan trọng hơn cả là lối suy tưởng: Khi ta ở chỉ là nơi đất ở - Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn. Tác giả đã tạo ra sự phi lí bề ngoài ( đất hóa tâm hồn ) làm hình thức chứa đựng chân lí bên trong: Tình cảm gắn bó giữa con người với những miền đất sẽ theo thời gian mà âm thầm bồi đắp nên tâm hồn cho con người. Đây là một triết lí sâu sắc, thâu tóm được một quy luật phổ biến trong đời sống nhân sinh. Từ cảm xúc suy tư đúc kết thành những triết lí chính là một nét độc đáo của nghệ thuật thơ Chế Lan Viên.

File đính kèm:

  • docMot so de tham khao ve bai Tieng hat con tau Che Lan Vien.doc
Giáo án liên quan