Ôn tập thi tốt nghiệp THPT

Đề 1: câu1 (3 đ ): nêu hoàn cảnh ra đời tác phẩm Nhật kí trong tù. Hình tượng Hồ Chí Minh trong NKTT, Phong cách nghệ thuật thơ HCM qua các tác phẩm.

Câu 2 (7 đ): Phân tích truyện ngắn “ Vi hành” của Nguyễn Ái Quốc.

Gợi ý:

Câu 1:

- Hoàn cảnh ra đời NKTT: Hồ Chí Minh bị chính quyền Tưởng Giới Thạch giam cầm từ mùa thu 1942 đến mùa thu 1943. Người bị giải qua 30 nhà lao của 13 huyện thuộc tỉnh Quảng tây – Trung Quốc trong hoàn cảnh Cách mạng Việt Nam đang từng giờ, từng phút cần đến Người.

- Hình tượng HCM trong NKTT:

+ Vừa kiên cường bất khuất vừa mềm mại tinh tế

+ Vừa ung dung tự tại vừa khắc khoải ngóng trông.

+ Vừa lo âu trằn trọc vừavừa lạc quan tin tưởng

Tất cả bắt nguồn từ lòng yêu nước ênh mông, một tấm lòng nhân đạo lớn, cốt cách một Đại Trí, Đại nhân, đại dũng

 

doc30 trang | Chia sẻ: luyenbuitvga | Ngày: 20/05/2015 | Lượt xem: 946 | Lượt tải: 10download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Ôn tập thi tốt nghiệp THPT, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Đề 1: câu1 (3 đ ): nêu hoàn cảnh ra đời tác phẩm Nhật kí trong tù. Hình tượng Hồ Chí Minh trong NKTT, Phong cách nghệ thuật thơ HCM qua các tác phẩm. Câu 2 (7 đ): Phân tích truyện ngắn “ Vi hành” của Nguyễn Ái Quốc. Gợi ý: Câu 1: Hoàn cảnh ra đời NKTT: Hồ Chí Minh bị chính quyền Tưởng Giới Thạch giam cầm từ mùa thu 1942 đến mùa thu 1943. Người bị giải qua 30 nhà lao của 13 huyện thuộc tỉnh Quảng tây – Trung Quốc trong hoàn cảnh Cách mạng Việt Nam đang từng giờ, từng phút cần đến Người. Hình tượng HCM trong NKTT: + Vừa kiên cường bất khuất vừa mềm mại tinh tế + Vừa ung dung tự tại vừa khắc khoải ngóng trông. + Vừa lo âu trằn trọc vừavừa lạc quan tin tưởng Tất cả bắt nguồn từ lòng yêu nước ênh mông, một tấm lòng nhân đạo lớn, cốt cách một Đại Trí, Đại nhân, đại dũng Phong cách nghệ thuật thơ HCM trong NKTT: + Giản dị trong sáng, hồn nhiên +Hòa hợp bút pháp cổ điển và hiện đại + Bản chất chiến sĩ thường được thể hiện qua hình tượng thi sĩ + Một nụ cười hài hước tự trào lấp lánh. Câu 2: Phân tích truyện ngắn “ Vi hành” của Nguyễn Ái Quốc. Mở bài: Tên truyện Vi Hành được Nguyễn Ái Quốc viết bằng tiếng Pháp: “Incognito”, in trên báo “Nhân đạo” của Đảng Cộng sản Pháp, ngày 19-2-1923. Phạm Huy Thông dịch là “Vi hành” in trong tập “Truyện và ký” của Nguyễn Ái Quốc (1974). Cùng với vở kịch “Con rồng tre”, truyện “Lời than vãn của Bà Trưng Trắc”, truyện ngắn “Vi hành” này nhằm châm biếm sâu cay tên vua bù nhìn Khải Định khi hắn sang Pháp năm 1922. Truyện đã Vạch trần bộ mặt xấu xa, thối nát của tên vua bù nhìn, đồng thời châm biếm chế giễu chế độ thực dân Pháp. Thân bài: Nội dung Một trường hợp nhầm lẫn hiếm có. Trong toa điện ngầm Paris, đôi nam nữ thanh niên Pháp tò mò, ma mãnh nhầm lẫn nhân vật “tôi” là hoàng đế An Nam. Ăn mặc, trang sức kệch cỡm: “mũi tẹt, da vàng, nhút nhát, lúng ta lúng túng. Có cái chụp đèn chụp lên đầu quấn khăn. Ngón tay đeo đầy những nhẫn”. Vua An Nam đã vi hành, mọi thứ quý giá đã gửi tuốt ở kho hành lí nhà ga, hay đem đến tiệm cầm đồ. Trong lúc xem đem vợ lẽ nàng hầu vua Cao Miên, xem tụi làm trò leo trèo nhào lộn của sư thánh xứ Công Gô phải trả nghìn rưởi phrăng nhưng xem vua An Nam ngồi cạnh chẳng mất một tí tiền nào. Hắn là một tên vua bù nhìn, một tên hề mạt hạng, mà ông bầu Nhà hát múa rối định ký giao kèo thuê đấy. Một bức thư gửi cô em họ rất hóm hỉnh để bàn về vi hành của các bậc vua chúa. Vua Thuấn cải trang làm dân cày đi dò la khắp xứ. Vua Pie cải trang làm thợ đến làm việc ở công trường nước Anh. Họ là “những bậc cải trang vĩ đại”. Còn tên vua bù nhìn An Nam đi vi hành là để xem dân Pháp có được uống nhiều rượu và hút nhiều thuốc phiện bằng dân Nam. Hay vì chán cảnh làm một ông vua to ngài lại muốn nếm thử cuộc đời của công tử bé để ăn chơi trác táng. Tác giả đã châm biếm sâu cay bọn quan thầy thực dân. Mọi người da vàng mũi tẹt đều trở thành hoàng đế ở Pháp, tất cả những ai da trắng ở Đông Dương đều là những bậc khai hóa. Quần chúng Pháp hễ thấy một đồng bào ta thì lầm tưởng là hoàng đế An Nam mà tò mò chỉ trỏ: “Hắn đấy”, hoặc “xem hắn kìa!”. Nhân vật “tôi” đi đâu một bước thì được bọn mật thám “bám lấy đế giày dính chặt… như hình với bóng” để theo dõi. Nghệ thuật Viết dưới hình thức một bức thư, kết hợp tả, kể nêu giả định và bàn luận.     Những giả định, so sánh đầy ý vị để châm biếm sâu cay. Một sự nhầm lẫn “chết người” đã vạch trần chân tướng kẻ đang vi hành trên đất Pháp.     Giọng văn châm biếm khinh bỉ. Cả quan thầy lẫn tên vua bù nhìn bị vạch trần chân tướng: xấu xa, đê mạt và ghê tởm: “Ngày nay, cứ mỗi lần ra khỏi cửa, thật tôi không sao che giấu nổi niềm tự hào được là một người An Nam và sự kiêu hãnh được có một vị hoàng đế!” Kết bài : Giọng văn hóm hỉnh và giễu cợt, dựngtình huống nhầm lẫn và giả định, cùng với lối viết ngắn mang màu sắc văn xuôi hiện đại phương Tây, đã tạo nên tính chiến đấu của truyện “Vi hành”. “Vi hành” thể hiện sâu sắc tư tưởng chống chế độ thực dân Pháp và bọn bù nhìn tay sai. Nó tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật giản dị mà sắc bén, tính hiện đại và chất trí tuệ trong truyện ký của Nguyễn Ái Quốc viết bằng tiếng Pháp ĐỀ 2 Câu1(2đ): Anh(chị) trình bày hoàn cảnh ra đời bài thơ “ Tây tiến” của Quang Dũng. Câu 2(2 đ): Trình bày ngắn gọn quan điểm sáng tác văn học của Hồ Chí Minh Câu 3 ( 6 đ) Phân tích đoạn thơ sau trong bài thơ “ Tâm tư trong Tù” của Tố Hữu: Cô đơn thay là cảnh thân tù Tai mở rộng và lòng sôi náo nức Ở ngoài kia vui sướng biết bao nhiêu! Nghe chim reo trong gió mạnh lên triều Nghe vội vã tiếng dơi chiều đập cánh Nghe lạc ngựa rùng chân bên giếng lạnh Dưới đường xa nghe tiếng guốc đi về Gợi ý trả lời: Câu 1 (4 ý): -Tây tiến là 1 đơn vị quân đội được thành lập đầu năm 1947, địa bàn hoạt động ở Tây Bắc Bộ việt Nam và biên giới Việt –Lào - Chiến sĩ tây tiến phần đông là học sinh, thanh niên Hà Nội. Quang Dũng là đại đội trưởng. - Đơn vị Tây tiến chiến đấu trong hoàn cảnh rất gian khổ, vô cùng thiếu thốn về vật chất, bệnh sốt rét hoành hành dữ dội. Tuy vậy, họ vẫn phơi phới tinh thần lãng mạn anh hùng. - Khi viết bài thơ này, tác giả đã chuyển dơn vị, đang xa đoàn quân Tây tiến. Nhớ đồng độicũ, ông viết bài thơ “Tây tiến” năm 1948 tại làng Phù Lưu Chanh. Câu 2(3 ý): - Hồ Chí Minh xem sáng tác văn nghệ là 1 hoạt động tinh thần phong phú và phục vụ có hiệu quả cho sự nghiệp cách mạng. - Người đặc biệt chú ý đến đối tượng thưởng thức. Người cho rằng văn chương thời đại cách mạng, phải coi quảng đại quần chúng là đối tượng phục vụ. - Người luôn quan niệm tác phẩm văn chương phải có tính chân thật. Câu3: mở bài: Giới thiệu Tố Hữu và bài thơ Tâm tư trong tù , giới thiệu vị trí đoạn thơ - Tháng 4- 1939, giữa lúc đang hoạt động cách mạng sôi nổi, Tố Hữu bị địch bắt giam. trong bốn bức tường lạnh lẽo của nhà giam, ông đã viết Tâm tư trong tù . -Bài thơ là tiếng lòng khát khaotự do của một chàng trai trẻ tuổi lần đầu tiên bị tù đày và cũng là lời tự dặn lòng của người chiến sĩ trên con đường cách mạng đầy chông gai. - Đoạn hai khổ 1 được coi là đoạn hay nhất chiếm được tình cảm người đọc. Thân bài: - Đoạn thơ miêu tả cuộc sống bên ngoài với bao âm thanh sôi động cuộc sống + Nhà thơ lắng nghe được tiếng đời lăn náo nức , tiếng cuộc đời bên ngoài giục giã, đối lập với cuộc sống nhà tù lạnh lẽo, âm u. + Âm thanh cuộc sống bên ngoàivang lên rộn ràng + kết hợp thính giác và tưởng tượng, tác giả như thấy tất cả cuộc sống bên ngoài thật tươi tắn, rộn rã Tiếng chim hót , tiếng dơi chiều đạp cánh..trong bầu trời rộng rãi, tiếng lạc ngựa, tiếng guốc dưới đường xa thật gợi cảm. Đó chính là những âm thanh bình dị của cuộc sống, những hình ảnh quen thuộc của đời là tiếng gọi thiết tha và cảm động câu thơ kết thúc khổ thơ vang vọng trong tâm tưởng, đánh thức khao khát tự do. - Đoạn thơ là cuộc vượt ngục về tinh thần: Mặc dù trong cô đơn, trong nhà giam, bị tách biệt với cuộc sống bên ngoài, nhà thơ vẫn giữ mối liên hệ, gắn bó với cuộc sống bên ngoài. - Khổ thơ huy động tối đa thính giác và trí tưởng tượng đã dựng được bức tranh người tù cách mạng mặc dù bị giam hãm những vẫn yêu tha thiết cuộc sống. Vì vậy khổ thơ mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Kết bài: Đoạn thơ trên cùng với cả bài thơ Tâm tư trong tù thể hiện khát vọng tự do và sự gắn bó máu thịt với cuộc sống, không thoát ly ủy mị, không bi quan chán nản. Tố Hữu đã khẳng định vị trí của mình trong thơ ca cách mạng. Những vần thơ tuổi trẻ với những cảm xúc tinh tế đã để lại ấn tượng sâu sắc trong người đọc. ĐỀ 3 Câu1(3đ): Anh(chị) hãy trình bày ngắn gọn sự nghiệp văn học của Nguyễn ái quốc-Hồ Chí Minh Câu2(7đ): Phân tích bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh Mộ ( chieàu toái) Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ         Cô vân mạn mạn độ thiên không;         Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc,     Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng. Dịch thơ: Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không Cô em xóm núi xay ngô tối Xay hết lò than đã rực hồng Gợi ý: Câu1(3đ): Sự nghiệp văn học của Nguyễn ái quốc-Hồ Chí Minh: - Văn chính luận: có khối lượng lớn và mẫu mực, lập luận chặt chẽ, lí lẽ xáx đáng, chứng cứ hùng hồn, ngôn ngữ giản dị trong sáng, có sức thuyết phục cao. Các tác phẩm tiêu biểu: Bản án chế độ Thực dân Pháp, Tuyên ngôn độc lập, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến...vv.. - Truyên và kí: Sáng tác chủ yếu từ 1922 đến 1925. Truyện của Người cô đọng, ngôn ngữ sáng tạo, kết cấu độc đáo, phong cách hiện đại. Một số tác phẩm tiêu biểu: Vi hành, những trò lố hay là Varen và Phan Bội Châu, Vừa đi đường vừa kể chuyện.... - Thơ ca Đây là lĩnh vực sáng tạo nổi bật trong sự nghiệp văn học của Hồ Chí Minh. Thơ của người thể hiện một tâm hồn nghệ sĩ tinh tế, tài hoa, một tấm gương nghị lực phi thường. Người sáng tác trên 250 bài thơ được in trong 3 tập: Nhật kí trong tù, Thơ chữ Hán Hồ Chí Minh, Thơ Hồ Chí Minh. Câu2(7đ): Phân tích bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh:    Mở bài: “Mộ” (Chiều tối) bài thơ thất ngôn tứ tuyệt số 31. Hồ Chí Minh viết bài thơ này đang trên đường bị giải tới nhà lao Thiên Bảo. Sau một ngày dài bị giải đi, trời tối dần. Thân bài: Hai câu đầu tả cảnh bầu trời lúc chiều tối. Cánh chim mỏi (quyện điểu) về rừng tìm cây trú ẩn. Áng mây lẻ loi, cô đơn (cô vân) trôi lững lờ trên tầng không. Cảnh vật thoáng buồn. Hai nét vẽ chấm phá (chim và mây), lấy cái nhỏ bé, cái động để làm nổi bật bầu trời bao la, cảnh chiều tối lặng lẽ và buồn. Cánh chim mỏi và áng mây cô đơn là hai hình ảnh vừa mang tính ước lệ trong thơ cổ tả cảnh chiều tối, vừa là hình ảnh ẩn dụ về người tù bị lưu đày trên con đường khổ ải mờ mịt vạn dặm:             “Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ             Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không”     Hai câu cuối là hình ảnh Trời tối rồi, tù nhân bị giải đi qua một xóm núi. Có bóng người (thiếu nữ). Có cảnh làm ăn bình dị: xay ngô. Có lò than đã rực hồng (lô dĩ hồng). Các chi tiết nghệ thuật ấy làm hiện lên một mái ấm gia đình, một cảnh đời dân dã, bình dị, “ấm áp”. Nếu chim trời, áng mây chiều đồng điệu với tâm hồn nhà thơ thì cảnh xay ngô của thiếu nữ và lò than rực hồng kia như đang làm vợi đi ít nhiều nỗi đau khổ của người đi đày khi qua nơi miền sơn cước xa lạ. Tương phản với màn đêm bao trùm không gian, cảnh vật là “lò than đã rực hồng”. Tứ thơ vận động từ bóng tối hướng về ánh sáng. Nó cho ta thấy, trong cảnh ngộ cô đơn, nặng nề, bị tước mất tự do, bị ngược đãi, người chiến sĩ cách mạng, nhà thơ Hồ Chí Minh vẫn gắn bó, chan hòa, gần gũi với nhịp đời thường cần lao. Câu thơ thứ 3 dịch chưa được hay. Chữ “cô em” hơi lạc điệu. Thêm vào một chữ “tối” đã mất đi ý vị “ý tại ngôn ngoại” vẻ đẹp hàm súc của thơ chữ Hán cổ điển:             “Cô em xóm núi xay ngô tối             Xay hết lò than đã rực hồng”     Bài thơ có cảnh bầu trời và xóm núi, có áng mây, cánh chim chiều. Chim về rừng, mây lơ lửng. Có thiếu nữ xay ngô và lò than hồng. Đằng sau bức tranh cảnh chiều tối là một nỗi niềm buồn, cô đơn, là một tấm lòng hướng về nhân dân lao động, tìm thấy trong khoảnh khắc chiều tối. Kết bài: Nghệ thuật mượn cảnh để tả tình. Điệu thơ nhè nhẹ, man mác bâng khuâng, vừa đậm đà màu sắc cổ điển vừa toát lên vẻ đẹp hiện đại. Tinh tế trong biểu hiện, đậm đà trong biểu cảm là vẻ đẹp trữ tình của bài thơ “Chiều tối” này. ĐỀ 4 Câu 1( 2 đ) Nêu hoàn cảnh ra đời và mục đích sáng tác của truyện ngắn Vi hành của Nguyễn Ái Quốc. Câu 2(8 đ) Phân tích bài thơ Giải đi sớm của Hồ Chí Minh. Tảo giải (Giải đi sớm)                             I         Nhất thứ kê đề dạ vị lan,         Quần tinh ủng nguyệt thướng thu san;         Chinh nhân dĩ tại chinh đồ thượng,         Nghênh diện thu phong trận trận hàn.                             II         Đông phương bạch sắc dĩ thành hồng,         U ám tàn dư tảo nhất không;         Noãn khí bao la toàn vũ trụ,         Hành nhân thi hứng hốt gia nồng                                                 Hồ Chí Minh Dịch thơ: I Gà gáy một lần đêm chửa tan Chòm sao đưa nguyệt vượt lên ngàn Người đi cất bước trên đường thẳm Rát mặt đêm thu trận gió hàn II Phương đông màu trắc chuyển sang hồng Bóng tối đêm tàn quét sạch không Bóng tối bao la trùm vũ trụ Người đi thi hứng bỗng thêm nồng Gợi ý: Câu 1 : -Hoàn cảnh ra đời Vi hành: Chính phủ Pháp đưa Khải Định sang MacXây dự cuộc đấu xảo thuộc địa nhằm lừa bịp dư luận về chính sách “Khai hóa”. Nhân sự kiện đó, Nguyễn Ái Quốc sáng tác “Vi hành”. Truyện viết bằng tiếng Pháp đăng trên báo nhân đạo- cơ quan ngôn luận của Đảng cộng sản Pháp năm 1923. -Mục đích sáng tác “Vi hành” là vạch mặt Khải Định- một tên vua bù nhìn, một con rối trong tay Thực dân Pháp đồng thời tố cáo những thủ đoạn xảo trá của Thực dân Pháp đối với nhân dân các nước thuộc địa, châm biếm sự bủa vây bắt bớ của mật thám Phápđối với những người Việt Nam yêu nước trên đất Pháp. Caâu 2: Phaân tích baøi thô “ Giaûi ñi sôùm” cuûa Hoà Chí Minh. Môû baøi     Tảo giải (Giải đi sớm) là chùm thơ 2 bài 42, 43 trong “Ngục trung nhật ký” của Hồ Chí Minh. Trên đường chuyển lao từ Long An đến Đồng Chính, Hồ Chí Minh viết chùm thơ này. Như một trang ký sự của người đi đày thế nhưng đằng sau cảnh sắc thiên nhiên hé lộ một hồn thơ khoáng đạt, mạnh mẽ và tự tin, yêu đời. Thân bài:     Bài I, ngay câu đầu ghi lại thời điểm chuyển lao: “Gà gáy một lần, đêm chửa tan”. Nhất thứ kê đề dạ vị lan,         Quần tinh ủng nguyệt thướng thu san; Đó là lúc nửa đêm về sáng. Chỉ có chòm sao nâng vầng trăng lên đỉnh núi thu. Trăng sao được nhân hóa như cùng đồng hành với người đi đày. Cái nhìn lên bầu trời trong cảnh khổ ải thể hiện một tâm thế đẹp. Hai câu 3, 4 nói về con đường mà tù nhân đang đi là con đường xa (chinh đồ). Chinh nhân dĩ tại chinh đồ thượng,         Nghênh diện thu phong trận trận hàn. Gió thu táp vào mặt từng cơn từng cơn lạnh lẽo. Trong câu thơ chữ Hán, chữ “chinh” chữ “trận” được điệp lại hai lần (chinh nhân, chinh đồ; trận trận hàn), làm cho ý thơ rắn rỏi, nhịp thơ mạnh mẽ. Nó thể hiện một tâm thế rất đẹp. Mặc dù áo quần tả tơi, thân thể tiều tụy nhưng người chiến sĩ vĩ đại vẫn đứng vững trước mọi thử thách nặng nề: đêm tối, đường xa, gió rét…     Bài II, nói về cảnh rạng đông. Cái lạnh lẽo, cái u ám của đêm thu còn rơi rớt lại chốc đã bị quét hết sạch. Đông phương bạch sắc dĩ thành hồng,         U ám tàn dư tảo nhất không; Phương đông từ màu trắng đã thành hồng. Hơi ấm tràn ngập đất trời, vũ trụ. Trước một không gian bao la có màu hồng, có hơi ấm của rạng đông, “chinh nhân” (người đi xa) đã hóa thành “hành nhân” : Noãn khí bao la toàn vũ trụ,         Hành nhân thi hứng hốt gia nồng (người đi). Hình như mọi đau khổ bị tiêu tan trong khoảnh khắc. Người đi đày đã trở thành con người “tự do”, thi hứng dâng lên dào dạt nồng nàn. Niềm vui đón cảnh rạng đông đẹp và ấm áp. Một đêm lạnh lẽo đã trôi qua. Tứ thơ vận động từ tối qua rạng đông tráng lệ, từ lạnh lẽo đến hơi ấm. Người đọc có cảm giác nhà thơ đi đón bình minh, đón ánh sáng và niềm vui cuộc đời.   Kết bài:  Chùm thơ “Tảo giải” cho thấy tinh thần chịu đựng gian khổ làm chủ hoàn cảnh và phong thái ung dung, lạc quan yêu đời của nhà thơ Hồ Chí Minh trong cảnh đọa đầy. “Tảo giải” là bài ca của người đi đày, hàm chứa chất “thép” thâm trầm, sâu sắc mà “không hề nói đến thép, lên giọng thép”. ĐỀ 5: Câu 1: Nêu những tiền đề chung cho sự phát triển của văn học Việt nam từ sau cách mạng tháng Tám 1945 đến 1975 Câu 2: Phân tích bài thơ “ Mới ra tù tập leo núi” của Hồ Chí Minh. Gợi ý: Câu 1: Những tiền đề chung cho sự phát triển của văn học Việt nam từ sau cách mạng tháng Tám 1945 đến 1975 Đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng đối với VHVN và sự đóng góp sáng tạo, tích cực của nhà văn cho nền văn học cách mạng. Hiện thực cách mạng khơi nguồn sáng tạo và là đối tượng phản ánh chủ yếucủa nhiều tác phẩm văn chương. Một đội ngũ các nhà văn giàu nhiệt tình cách mạng và giàu sức sáng tạo Câu 2: Mới ra tù, tập leo núi         Vân ủng trùng sơn, sơn ủng vân         Giang tâm như kính, tịnh vô trần,         Bồi hồi độc bộ Tây Phong Lĩnh         Dao vọng Nam thiên ức cố nhân                                                     Hồ Chí Minh Mở bài: “Nhật ký trong tù” gồm có 133 bài thơ, phần lớn là thơ tứ tuyệt. Bài thơ “Mới ra tù, tập leo núi” không nằm trong số 133 bài thơ ấy. Một số tài liệu cho biết, ngày 10/9/1943, tại nhà Mới ra tù, tập leo núi) giam Liễu Châu, Hồ Chí Minh đã giành được tự do. Ra tù, chân yếu, mắt mờ, tóc bạc. Người đã kiên trì tập luyện để phục hồi sức khỏe. Tập leo núi, và khi leo đến đỉnh núi, Bác cao hứng viết bài thơ này. Bài tứ tuyệt “Mới ra tù, tập leo núi” được Bác Hồ viết vào rìa một tờ báo Trung Quốc, kèm theo dòng chữ: “Chúc chư huynh ở nhà mạnh khỏe và cố gắng công tác. Ở bên này bình yên”. Ngoài mục đích bí mật nhắn tin về nước, bài thơ thể hiện một tình yêu nước và thương nhớ đồng chí, bạn bè của Hồ Chủ tịch.     Hai câu đầu là hai câu thơ tuyệt bút tả cảnh sơn thủy hữu tình. Có mây, núi ôm ấp quấn quýt. Có lòng sông như tấm gương trong, không gợn một chút bụi nào! Câu thơ dịch khá hay: “Núi ấp ôm mây, mây ấp núi,         Lòng sông gương sáng bụi không mờ”     Ba nét vẽ chấm phá đã lột tả được cái hồn cảnh vật. Nghệ thuật sử dụng điệp ngữ, nhân hóa và so sánh đã làm hiện lên phong cảnh sơn thủy hùng vĩ và hữu tình. Bức tranh sơn thủy được miêu tả ở tầm cao và xa, đậm đà màu sắc cổ điển. Trong bối cảnh lịch sử bài thơ ra đời, hình ảnh mây, núi, lòng sông mang hàm nghĩa sâu sắc, tượng trưng cho tâm hồn trong sáng, cao cả và thủy chung của con người. Hai câu 3, 4 thể hiện một tâm trạng rất điển hình của người chiến sĩ cách mạng đang ở nơi đất khách quê người. Từ Tây Phong Lĩnh (Liễu Châu) đến Nam thiên là muôn dặm xa cách. Vừa leo núi, dạo bước mà lòng bồi hồi, bồn chồn, không yên dạ. Leo núi đến tầm cao rồi ngóng nhìn xa (dao vọng) trời Nam, quê hương đất nước mà lòng xúc động “nhớ bạn xưa” (Ức cố nhân):                 “Bồi hồi dạo bước Tây Phong Lĩnh         Trông lại trời Nam nhớ bạn xưa” Ngôn ngữ thơ trang trọng, giàu biểu cảm, mỗi chữ là một nét, một mảnh tâm hồn của người chiến sĩ vĩ đại. “Bồi hồi”, “dao vọng”, “Nam thiên”, “ức cố nhân”… đó là tấm lòng của một con người nặng tình non nước “Đêm mơ nước, ngày thấy hình của nước – Cây cỏ trong chiêm bao xanh sắc biếc quê nhà”… (Chế Lan Viên). Ức hữu, ức cố nhân,… là cảm xúc đằm thắm được diễn tả trong nhiều bài thơ “Nhật ký trong tù”. Lúc thì “Nội thương đất Việt cảnh lầm than” (ốm nặng). Khi thì “Nghìn dặm, bâng khuâng hồn nước cũ – Muôn tơ vương vấn một sầu nay” (Đêm thu). Tóm lại, “Mới ra tù, tập leo núi” là một bài thơ tả cảnh ngụ tình đặc sắc. Tình yêu thiên nhiên gắn liền với tình yêu đất nước sâu nặng. Hàm súc và mầu sắc cổ điển là vẻ đẹp của bài thơ. Sắc điệu trữ tình trong thơ Hồ Chí Minh như dẫn hồn ta ngược thời gian nhớ một vần thơ Kiều tuyệt bút, lóng ta mãi rung động bồi hồi:             “Bốn phương mây trắng một màu,             Trông vời Tổ quốc biết đâu là nhà”. ĐỀ 6 Câu 1(2 điểm) Anh (chị) nêu những đặc điểm văn học Việt Nam từ sau cách mạng tháng tám 1945 đến 1975. Câu 2( 8đ) Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh là một áng văn chính luận mẫu mực. Anh ( chị) hảy phân tích để làm sáng tỏ nhận định trên. Gợi ý: câu 1: Những đặc điểm chủ yếu của văn học Việt Nam từ sau cách mạng tháng tám 1945 đến 1975. Lí tưởng và nội dung yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội là đặc điểm nổi bật của VHVN giai đoạn 1945- 1975 Nền văn học cách mạng mang tính nhân dân sâu sắc. Một nền văn học có nhiều thành tựu về sự phát triển các thể loại và phong cách tác giả. Câu 2 Mở bài:     19/8/1945 chính quyền ở thủ đô Hà Nội đã về tay nhân dân ta. 23/8/1945, tại Huế trước hàng vạn đồng bào ta, vua Bảo Đại thoái vị. 25/8/1945, gần 1 triệu đồng bào Sài Gòn - Chợ Lớn quật khởi đứng lên giành chính quyền. Chỉ không đầy 10 ngày, Tổng khởi nghĩa và Cách mạng tháng Tám đã thành công rực rỡ.     Cuối tháng 8/1945, tại căn nhà số 48 phố Hàng Ngang, Hà Nội, lãnh tụ Hồ Chí Minh soạn thảo bản Tuyên ngôn Độc lập. Và ngày 2/9/1945; tại quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Người thay mặt Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, đọc bản Tuyên ngôn Độc lập trước hàng chục vạn đồng bào ta, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra một kỷ nguyên mới Độc lập, Tự do. Thân bài: 1. Cơ sở pháp lý và chính nghĩa của bản Tuyên ngôn Độc lập là khẳng định quyền bình đẳng, quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc của con người. Đó là những quyền không ai có thể xâm phạm được; người ta sinh ra phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi.     Hồ Chủ Tịch đã trích dẫn 2 câu nổi tiếng trong 2 bản Tuyên ngôn của Mĩ và Pháp, trước hết là để khẳng định Nhân quyền và Dân quyền là tư tưởng lớn, cao đẹp của thời đại, sau nữa là “suy rộng ra…” nhằm nêu cao một lý tưởng về quyền bình đẳng, quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do của các dân tộc trên thế giới. Cách mở bài rất đặc sắc, từ công nhận Nhân quyền và Dân quyền là tư tưởng thời đại đi đến khẳng định Độc lập, Tự do, Hạnh phúc là khát vọng của các dân tộc. Câu văn “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được” là sự khẳng định một cách hùng hồn chân lí thời đại: Độc lập, Tự do, Hạnh phúc, Bình đẳng của con người, của các dân tộc cần được tôn trọng và bảo vệ.     Cách mở bài rất hay, hùng hồn trang nghiêm. Người không chỉ nói với nhân dân Việt Nam ta, mà còn tuyên bố với thế giới. Trong hoàn cảnh lịch sử thời bấy giờ, thế chiến 2 vừa kết thúc, Người trích dẫn như vậy là để tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của dư luận tiến bộ thế giới, nhất là các nước trong phe Đồng minh, đồng thời ngăn chặn âm mưu tái chiếm Đông Dương làm thuộc địa của Đờ Gôn và bọn thực dân Pháp hiếu chiến, đầy tham vọng.    2. Bản cáo trạng tội ác thực dân Pháp.     - Vạch trần bộ mặt xảo quyệt của thực dân Pháp “lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta”.     - Năm tội ác về chính trị: 1- tước đoạt tự do dân chủ, 2- luật pháp dã man, chia để trị, 3- chém giết những chiến sĩ yêu nước của ta, 4- ràng buộc dư luận và thi hành chính sách ngu dân, 5- đầu độc bằng rượu cồn, thuốc phiện.     - Năm tội ác lớn về kinh tế: 1- bóc lột tước đoạt, 2- độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng, 3- sưu thuế nặng nề, vô lý đã bần cùng nhân dân ta, 4- đè nén khống chế các nhà tư sản ta, bóc lột tàn nhẫn công nhân ta, 5- gây ra thảm họa làm cho hơn 2 triệu đồng bào ta bị chết đói năm 1945.     - Trong vòng 5 năm (1940 – 1945) thực dân Pháp đã hèn hạ và nhục nhã “bán nước ta 2 lần cho Nhật”. - Thẳng tay khủng bố Việt Minh; “thậm chí đến khi thua chạy, chúng còn nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng”.     3. Quá trình đấu tranh giành độc lập của nhân dân ta     - Từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Nhân dân ta đã nổi dậy giành chính quyền khi Nhật hàng Đồng minh. - Nhân dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân và chế độ quân chủ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hoà. Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị.     - Chế độ thực dân Pháp trên đất nước ta vĩnh viễn chấm dứt và xoá bỏ.     - Trên nguyên tắc dân tộc bình đẳng mà tin rằng các nước Đồng minh “quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam”: “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do. Dân tộc đó phải được độc lập.     Phần thứ hai là những bằng chứng lịch sử không ai chối cãi được, đó là cơ sở thực tế và lịch sử của bản Tuyên ngôn độc lập được Hồ Chí Minh lập luận một cách chặt chẽ với những lí lẽ đanh thép, hùng hồn. 4. Lời tuyên bố với thế giới     - Nước Việt Nam có quyền được hưởng tự do và độc lập và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập (từ khát vọng đến sự thật lịch sử hiển nhiên)     - Nhân dân đã quyết tâm giữ vững quyền tự do, độc lập ấy (được làm nên bằng xương máu và lòng yêu nước). Tuyên ngôn độc lập là một văn kiện lịch sử vô giá của dân tộc ta, thể hiện phong cách chính luận của Hồ Chí Minh    - Một lối viết ngắn gọn (950 từ). Có câu văn 9 từ mà nêu đủ nêu đúng một cục diện chính trị: “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị”. Những bằng chứng lịch sử về 10 tội ác của thực dân Pháp và quá trình đấu tranh giành độc lập của nhân dân ta là không ai chối cãi được. Sử dụng điệp ngữ tạo nên những câu văn trùng điệp đầy ấn tượng: “Chúng lập ra nhà tù nhiều h

File đính kèm:

  • docOn thi tot nghiep THPT .doc
Giáo án liên quan