Sáng kiến kinh nghiệm hướng dẫn học sinh làm văn nghị luận xã hội một cách hứng thú

I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN

1. Họ và tên: Nguyễn Thị Khánh

2. Ngày tháng năm sinh: 24-10-1956

3. Nam/ nữ: Nữ

4. Địa chỉ: Ấp 1, xã Phú Thạnh, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai

5. Điện thoại: Cơ quan: 0613.518248- Nhà riêng: 0613.582164- ĐTDĐ: 0907823986

6. Email: nguynthkhanh@ymail.com

7. Chức vụ: Giáo viên Văn- Phó Chủ tịch Công Đoàn trường

8. Đơn vị công tác: Trường THPT Nhơn Trạch

II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO

 Học vị: Thạc sĩ khoa học Ngữ Văn

 Năm nhận bằng: 1996

 Chuyên ngành đào tạo: Văn học Việt Nam (trung đại)

III. KINH NGHIỆM KHOA HỌC

 Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Giảng dạy văn học

 Số năm có kinh nghiệm: 25 năm

 Các SKKN đã có trong 5 năm gần đây

* Năm 2006 : Hướng dẫn HS tìm hiểu về tác giả văn chương

* Năm 2007 : Vận dụng các hình thức trắc nghiệm vào việc giảng dạy và kiểm tra môn Văn

* Năm 2008 : Vận dụng những phương pháp dạy học tích cực vào việc môn Ngữ Văn

* Năm 2009: Kinh nghiệm đổi mới kiểm tra đánh giá môn Ngữ Văn

* Năm 2010: Khai thác tư liệu hình ảnh, thơ, nhạc, phim để đưa vào giáo án điện tử môn Ngữ Văn

 

doc21 trang | Chia sẻ: luyenbuitvga | Ngày: 26/02/2014 | Lượt xem: 1118 | Lượt tải: 2download
Tóm tắt nội dung Sáng kiến kinh nghiệm hướng dẫn học sinh làm văn nghị luận xã hội một cách hứng thú, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
SỞ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI Đơn vị: Trường THPT Nhơn Trạch Mã số:………………. SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM HƯỚNG DẪN HỌC SINH LÀM VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI MỘT CÁCH HỨNG THÚ Người thực hiện: Nguyễn Thị Khánh Lĩnh vực nghiên cứu: Quản lý Giáo dục ¨ Phương pháp giảng dạy bộ môn : Văn ¨ Phương pháp giáo dục ¨ Lĩnh vực khác ¨ Sản phẩm đính kèm: ¨ Mô hình ¨ Phần mềm ¨ Phim ảnh ¨ Hiện vật khác: Đĩa CD Rom Năm học 2010-2011 SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN Họ và tên: Nguyễn Thị Khánh Ngày tháng năm sinh: 24-10-1956 Nam/ nữ: Nữ Địa chỉ: Ấp 1, xã Phú Thạnh, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai Điện thoại: Cơ quan: 0613.518248- Nhà riêng: 0613.582164- ĐTDĐ: 0907823986 Email: nguynthkhanh@ymail.com Chức vụ: Giáo viên Văn- Phó Chủ tịch Công Đoàn trường Đơn vị công tác: Trường THPT Nhơn Trạch TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO Học vị: Thạc sĩ khoa học Ngữ Văn Năm nhận bằng: 1996 Chuyên ngành đào tạo: Văn học Việt Nam (trung đại) KINH NGHIỆM KHOA HỌC Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Giảng dạy văn học Số năm có kinh nghiệm: 25 năm Các SKKN đã có trong 5 năm gần đây Năm 2006 : Hướng dẫn HS tìm hiểu về tác giả văn chương Năm 2007 : Vận dụng các hình thức trắc nghiệm vào việc giảng dạy và kiểm tra môn Văn Năm 2008 : Vận dụng những phương pháp dạy học tích cực vào việc môn Ngữ Văn Năm 2009: Kinh nghiệm đổi mới kiểm tra đánh giá môn Ngữ Văn Năm 2010: Khai thác tư liệu hình ảnh, thơ, nhạc, phim để đưa vào giáo án điện tử môn Ngữ Văn Đề tài: HƯỚNG DẪN HỌC SINH LÀM VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI MỘT CÁCH HỨNG THÚ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Làm văn là một phân môn của môn Văn trong nhà trường phổ thông. Khi học phân môn này, học sinh được rèn luyện rèn luyện các thao tác nghị luận như giải thích, chứng minh, phân tích, so sánh, bác bỏ, bình luận, qua các kiểu bài tự sự, biểu cảm, thuyết minh, nghị luận văn học và nghị luận xã hội Bài nghị luận văn học giúp cho học sinh cách cảm thụ, phân tích đánh giá một áng văn, áng thơ, những nhân vật trong tác phẩm văn chương. Việc rèn luyện kiểu bài này rất cần thiết cho học sinh khi làm các bài kiểm tra, bài thi học kỳ, thi tốt nghiệp, thi tuyển sinh Cao đẳng Đại học khối C, D- và một số ngành khoa học xã hội- nhưng lại ít cần thiết cho người học khi vào đời. Bài nghị luận xã hội rèn luyện cho học sinh cách nhìn nhận, kiến giải, trình bày những ý kiến riêng về một vấn đề tư tưởng đạo lý hoặc một vấn đề xã hội đáng quan tâm. Việc rèn luyện kiểu bài này không chỉ cần cho học sinh khi làm các bài kiểm tra, bài thi mà còn cần cho người học khi vào đời. Bởi vì trong cuộc sống, dù làm bất cứ công việc gì, ở bất kỳ lĩnh vực nào, mỗi người cũng có lúc phải trình bày ý kiến riêng của mình về một vấn đề xã hội. Trong quá trình giảng dạy, mỗi giáo viên đều rút ra được kinh nghiệm hướng dẫn học sinh thực hiện bài làm văn. Bài viết này không nêu ra những lý thuyết chung về kỹ năng làm văn nghị luận xã hội (đã có trong SGK) mà chỉ nêu lên một vài kinh nghiệm về việc hướng dẫn học sinh làm văn nghị luận một cách hứng thú THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP CỦA ĐỀ TÀI Thuận lợi Trước năm 2009 (năm đầu tiên thi tốt nghiệp theo chương trình sách giáo khoa mới) trong các đề thi dành cho chương trình phân ban thử nghiệm đã có câu Làm Văn Nghị luận xã hội. Tuy nhiên, đề thi không phân ban lại thường chỉ có những câu hỏi về văn học nước ngoài và Văn học Việt Nam. Giáo viên và học sinh thường tập trung ôn Văn học nước ngoài và Văn học Việt Nam để làm bài kiểm tra hoặc bài thi. Từ năm 2009, trong cấu trúc đề thi đã quy định có câu làm văn Nghị luận xã hội. Đây là câu được 3 điểm trong thang điểm 10 của toàn đề thi. Giáo viên và học sinh đã quan tâm nhiều hơn đến bài văn Nghị luận xã hội. Trong trường THPT hiện nay, HS được luyện viết ba dạng đề NLXH: Nghị luận về một tư tưởng đạo lý, nghị luận về một hiện tượng cuộc sống, nghị luận về một vấn đề tư tưởng-xã hội- nhân sinh được đặt ra từ một tác phẩm. Cấu trúc đề thi tốt nghiệp tập trung vào hai dạng đề tư tưởng đạo lý và hiện tượng cuộc sống. Các dạng đề này cũng tạo nhiều hứng thú cho học sinh Khảo sát dưới đây cho thấy sự hứng thú của học sinh đối với các dạng đề Nghị luận xã hội Câu hỏi khảo sát: Anh/chị thích dạng đề nào trong ba dạng đề thường gặp ở chương trình THPT? Đề nghị luận về một tư tưởng đạo lý. VD: Anh (chị) hiểu thế nào về câu nói: “Hạnh phúc cũng như lửa, càng chia ra thì càng được nhân lên”? Đề nghị luận về một hiện tượng cuộc sống. VD: Viết một bài văn nghị luận bàn về thái độ “vô cảm” trong một bộ phận thanh niên hiện nay Đề nghị luận về một vấn đề từ một câu chuyện kể , hoặc từ một tác phẩm Văn học VD1: Suy nghĩ của anh (chị) về ý nghĩa của câu chuyện sau: Xén lá Mẫu đơn là vua các loài hoa. Có anh nhà giàu, mua được một gốc, trồng ở giữa sân. Khi hoa nở, màu đỏ rực rỡ, lá xanh rợp mát. Người nào đi qua trông thấy cũng thốt lên: “Hoa đẹp biết bao !”. Anh nhà giàu nghe người ta chỉ khen hoa, mà không thấy nói gì đến cành lá, bèn xén trụi cành lá. Rốt cuộc ai thấy cũng lắc đầu, nhíu mày bỏ đi. Anh nhà giàu hoang mang không hiểu, làu bàu: “Sao hôm qua thì ngợi khen hoa thế, mà hôm nay thấy hoa lại lắc đầu như vậy?”. (Theo Trần Tứ ích – Ngụ ngôn thi thoại – NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 2003) VD2: Từ bài thơ “Từ ấy” nghĩ về lẽ sống của thanh niên hiện nay. Dạng đề anh/ chị thích là (đánh dấu x vào ô tương ứng): 1 ¨ 2 ¨ 3 ¨ Trình bày ngắn gọn lý do anh/ chị thích dạng đề trên: Kết quả: ( số liệu khảo sát từ 100 HS mỗi khối. Số trả lời bằng với số tỉ lệ, có những HS thích cả hai hoặc ba dạng đề) Dạng đề Số HS thích Lý do thích dạng đề NL về một tư tưởng đạo lý 60 Đề bài gợi lên những bài học về đạo đức, nhân cách sống, có ý nghĩa giáo dục. Dễ phân tích, chứng minh NL về một hiện tượng xã hội 70 Dễ làm, gần gũi với HS,có thể vận dụng kiến thức có sẵn để làm bài NL về một vấn đề XH từ tác phẩm 30 Đề bài là một bài thơ, câu chuyện thú vị, buộc người đọc phải suy nghĩ Khi làm bài văn NLXH, học sinh cũng có nhiều hứng thú. Khảo sát dưới đây cho thấy những yếu tố khiến HS hứng thú với bài văn Nghị luận xã hội Câu hỏi khảo sát: Anh/ chị có hứng thú gì khi làm văn Nghị luận xã hội? Kết quả: ( số liệu khảo sát từ 100 HS mỗi khối. Số trả lời bằng với số tỉ lệ) Yếu tố tạo nên hứng thú khi làm văn NLXH Số HS =Tỉ lệ Được trình bày suy nghĩ riêng 50 Được biết thêm nhiều câu danh ngôn,câu thơ/ văn, câu chuyện hay 65 Được hiểu biết thêm về những vấn đề cuộc sống 70 Được bồi dưỡng thêm về phẩm chất đạo đức 60 Được rèn luyện thêm về các kỹ năng làm văn 83 Ý kiến khác: Có thể cùng nhiều người bàn luận về các vấn đề “nhức nhối” của xã hội Khó khăn Đề nghị luận xã hội là đề mở, đem đến cho học sinh sự hứng khởi khi được bày tỏ những suy tư cá nhân về một câu danh ngôn, một vấn đề cuộc sống, nhưng cũng khiến nhiều học sinh lúng túng nếu chưa hiểu đề, chưa nắm vững kỹ năng làm bài, chưa có vốn sống thực tế. Thậm chí có học sinh còn cảm thấy loại đề này khô khan, không có cảm hứng khi viết văn. Kết quả khảo sát dưới đây cho thấy những khó khăn khiến HS lúng túng với bài văn Nghị luận xã hội Câu hỏi khảo sát: Anh/ chị có khó khăn gì khi làm văn Nghị luận xã hội? Kết quả: ( số liệu khảo sát từ 100 HS mỗi khối. Số trả lời bằng với số tỉ lệ) Những khó khăn khi làm văn NLXH Số HS =Tỉ lệ Ít tài liệu, ít dẫn chứng để làm văn 90 Hiểu chưa đúng ý câu danh ngôn , câu thơ, câu văn, câu chuyện 52 Hiểu đề, có ý tưởng, nhưng lúng túng trong việc trình bày, diễn đạt 70 Bị khuôn ép ý tưởng trong các dàn bài, không được viết tự do theo ý riêng 54 Ý tưởng nhiều mà số lượng chữ trong bài làm văn có giới hạn (400-600 chữ) 20 Ý kiến khác: không có Vẫn còn những HS chưa tập trung vào các đề Văn NLXH, đối với các em, học một bài văn NL Văn học có sẵn trong sách văn mẫu dễ hơn tìm ý cho một bài NLXH. Thậm chí, các em chỉ cần “qua cầu” ở môn Văn, tìm điểm bù lại ở các môn sở trường như Toán Lý Hóa, hoặc tìm sự may mắn ở những môn trắc nghiệm NỘI DUNG ĐỀ TÀI Cơ sở lý luận Học sinh thường cảm thấy khó khăn, ngại ngần trong việc làm văn khi không hứng thú với đề văn, không nắm vững các thao tác nghị luận, không nắm vững quy trình làm văn, không có ý tưởng để xây dựng dàn ý, không tìm được dẫn chứng cho bài viết. Giáo viên cần có những phương pháp phù hợp để khích lệ, động viên học sinh vượt qua những khó khăn trở ngại ấy, rèn luyện các kỹ năng viết và trình bày vấn đề, một kỹ năng cần thiết trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ trong thời đại mới . Đề nghị luận xã hội- như tên gọi của nó- còn cần gắn liền với những vấn đề xã hội, tư tưởng, đạo đức, nhân sinh, để giúp học sinh có những nhận thức và hành động đúng đắn. Hứng thú với kiểu bài NLXH, học sinh sẽ được bồi dưỡng nhân cách phẩm chất một cách tự nhiên, tránh áp đặt, giáo điều Hứng thú với bài NLXH, học sinh dễ viết được những bài văn đạt điểm tốt trong các đợt kiểm tra, thi cử Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài Nội dung biện pháp (ND-BP) 1: Giúp HS nắm vững các bước làm văn nói chung và làm văn NLXH nói riêng Sách giáo khoa từ lớp 10 đến lớp 12 đều có hướng dẫn học sinh cách làm các kiểu bài văn, trong đó có văn nghị luận xã hội. HS có thể hứng thú hơn, khi GV giới thiệu với các em các bước viết một bài văn trong một tài liệu nước ngoài để các em đối chiếu, tham khảo. Các tài liệu này có nhiều trên Internet. HS có thể tự đọc, hoặc GV tóm lược các ý chính cho HS, chú ý những chỗ hài hước, dí dỏm của tài liệu VD: Tài liệu "How To Write an Essay: 10 Easy Steps". Trong tài liệu này, học sinh tham khảo 10 bước dễ dàng để làm văn, trong mỗi bước, cách hướng dẫn lại dí dỏm. Chẳng hạn như trong bước 1: Nghiên cứu (Research-tìm hiểu đề) “Hãy tự biến bạn thành một chuyên gia” (making yourself an expert), hay như trong bước 5: Lập dàn ý (Outline) “Dùng những câu một dòng để nêu luận điểm của đoạn văn, và những dấu bullet để nêu lên ý chính trong nội dung mỗi đoạn văn. Hãy chơi trò sắp xếp thứ tự các luận điểm trong bài văn” (Use one-line sentences to describe paragraphs, and bullet points to describe what each paragraph will contain. Play with the essay’s order) Brief Overview of the 10 Essay Writing Steps 1. Research: Begin the essay writing process by researching your topic, making yourself an expert. Utilize the internet, the academic databases, and the library. Take notes and immerse yourself in the words of great thinkers. 2. Analysis: Now that you have a good knowledge base, start analyzing the arguments of the essays you're reading. Clearly define the claims, write out the reasons, the evidence. Look for weaknesses of logic, and also strengths. Learning how to write an essay begins by learning how to analyze essays written by others. 3. Brainstorming: Your essay will require insight of your own, genuine essay-writing brilliance. Ask yourself a dozen questions and answer them. Meditate with a pen in your hand. Take walks and think and think until you come up with original insights to write about. 4. Thesis: Pick your best idea and pin it down in a clear assertion that you can write your entire essay around. Your thesis is your main point, summed up in a concise sentence that lets the reader know where you're going, and why. It's practically impossible to write a good essay without a clear thesis. 5. Outline: Sketch out your essay before straightway writing it out. Use one-line sentences to describe paragraphs, and bullet points to describe what each paragraph will contain. Play with the essay's order. Map out the structure of your argument, and make sure each paragraph is unified. 6. Introduction: Now sit down and write the essay. The introduction should grab the reader's attention, set up the issue, and lead in to your thesis. Your intro is merely a buildup of the issue, a stage of bringing your reader into the essay's argument. (Note: The title and first paragraph are probably the most important elements in your essay. This is an essay-writing point that doesn't always sink in within the context of the classroom. In the first paragraph you either hook the reader's interest or lose it. Of course your teacher, who's getting paid to teach you how to write an essay, will read the essay you've written regardless, but in the real world, readers make up their minds about whether or not to read your essay by glancing at the title alone.) 7. Paragraphs: Each individual paragraph should be focused on a single idea that supports your thesis. Begin paragraphs with topic sentences, support assertions with evidence, and expound your ideas in the clearest, most sensible way you can. Speak to your reader as if he or she were sitting in front of you. In other words, instead of writing the essay, try talking the essay. 8. Conclusion: Gracefully exit your essay by making a quick wrap-up sentence, and then end on some memorable thought, perhaps a quotation, or an interesting twist of logic, or some call to action. Is there something you want the reader to walk away and do? Let him or her know exactly what. 9. MLA Style: Format your essay according to the correct guidelines for citation. All borrowed ideas and quotations should be correctly cited in the body of your text, followed up with a Works Cited (references) page listing the details of your sources. 10. Language: You're not done writing your essay until you've polished your language by correcting the grammar, making sentences flow, incoporating rhythm, emphasis, adjusting the formality, giving it a level-headed tone, and making other intuitive edits. Proofread until it reads just how you want it to sound. Writing an essay can be tedious, but you don't want to bungle the hours of conceptual work you've put into writing your essay by leaving a few slippy misppallings and pourly wordedd phrazies.. You're done. Great job. Now move over Ernest Hemingway — a new writer is coming of age! (Of course Hemingway was a fiction writer, not an essay writer, but he probably knew how to write an essay just as well.) ND-BP 2: Giúp HS hiểu đúng từ ngữ trong đề văn NLXH Đề văn NLXH, đặc biệt là đề NL về một tư tưởng đạo lý, có những từ ngữ tuy không khó, nhưng nếu HS hiểu không đúng, bài văn sẽ bị lệch hướng, lạc đề. Những từ ngữ như lý tưởng, mục đích, hoài bão, ước mơ…thường HS có hiểu, nhưng khó diễn đạt thành ý mạch lạc. Trong trường hợp này, GV nên hướng dẫn HS tra từ điển tiếng Việt hoặc từ điển Hán Việt để hiểu nghĩa gốc của từ ngữ VD1: Nhà văn Nga L.Tôn-xtôi nói: “Lí tưởng là ngọn đèn chỉ đường. Không có lí tưởng thì không có phương hướng kiên định, mà không có phương hướng thì không có cuộc sống”. Từ câu nói trên, anh (chị) hãy nêu suy nghĩ về vai trò của lí tưởng trong cuộc sống con người. Để làm tốt đề này, HS cần hiểu đúng nghĩa của từ “lý tưởng” mới có thể giải thích, phân tích, chứng minh đúng hướng. Dựa theo từ điển, “lý tưởng” được hiểu là: Lý tưởng: điều tốt đẹp xuất hiện trong tâm trí con người, do con người tưởng tượng, mong muốn Lý tưởng: khái niệm diễn tả một vẻ đẹp tuyệt vời, một hình ảnh hoàn hảo (VD: người yêu lý tưởng, chỗ ở lý tưởng…) Lý tưởng sống: quan niệm về lối sống tốt đẹp, toàn thiện mà con người ước mơ, khao khát kiếm tìm, xây dựng. nỗ lực phấn đấu để đạt tới (VD: Lý tưởng sống của tuổi trẻ) VD2: Giải thích và bình luận quan điểm sau đây của UNESCO về giáo dục: “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để khẳng định mình” Đây là quan điểm do UNESCO đề xướng, khái quát 4 trụ cột giáo dục (The Four Pillars of Education), HS cần giải thích đúng ý nghĩa 4 trụ cột giáo dục ấy Học để biết: (Learning to know) học để hiểu biết về thế giới chung quanh, phát triển các kỹ năng nghề nghiệp, biết cách giao tiếp với mọi người, khám phá khoa học, phát huy kỹ năng tập trung, ghi nhớ và năng lực tư duy. Học để làm: (Learning to do): học để vận dụng những kiến thức lý thuyết vào thực tế cuộc sống, đáp ứng được nhiều đòi hỏi trong công việc, có khả năng phân tích, thiết kế, tổ chức… Học để chung sống và hợp tác: (Learning to live together) Bạo lực thường chi phối cuộc sống trong thế giới đương đại Người học cần được tạo điều kiện, cơ hội để đến với các dự án hợp tác, tham gia vào các hoạt động xã hội , học được các phương pháp giải quyết mâu thuẫn, hiểu được sự đa dạng của con người. Học để khẳng định mình, học để làm người (Learning to be) người học cần được phát triển toàn diện: về nhân cách, trí tuệ và thể lực, sự thông minh và tình cảm phong phú., óc tự lập, phương pháp phê bình, đánh giá, khả năng đưa ra những quyết định đúng đắn trong những tình huống khác nhau của cuộc sống...Người học cần trở nên một thành viên tốt của gia đình, xã hội, nhà sản xuất, nhà phát minh, sáng tạo… dựa trên cơ sở kiến thức cá nhân và những mối quan hệ cộng đồng VD3: Bàn về vấn đề sự cần thiết phải có lòng vị tha trong cuộc sống HS thường hiểu khái niệm “vị tha” là “tha thứ”, khi viết bài văn chỉ bàn về một vấn đề là phải tha thứ cho người khác. Cách hiểu này chỉ đúng một phần, vì “vị tha” có nghĩa là vì người khác, không vị kỷ. GV có thể liên hệ thêm cho HS hiểu nghĩa từ “vị tha” một cách lý thú, bằng cách ôn lại kiến thức các em đã học Vị có nghĩa là vì, như trong quan điểm “nghệ thuật vị nghệ thuật’ của các nhà văn lãng mạn và “nghệ thuật vị nhân sinh” của các nhà văn hiện thực phê phán trước năm 1945. Tha có nghĩa là khác. Như trong các từ ngữ “Tha hương”, “Tha nhân”. Liên hệ với câu thơ đã học của Đỗ Phủ: “Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ” (Thu hứng) ND-BP 3: Bản câu hỏi tìm ý HS cần biết cách đặt ra những câu hỏi cho một đề Văn nói chung và đề NLXH nói riêng. Câu hỏi có thể do các nhóm tự biên soạn, trao đổi trong lớp, tương ứng với các phần của một bài NLXH. Câu hỏi cũng có thể do GV gợi ý, HS tìm tài liệu. Bản câu hỏi sẽ rất cần thiết cho những đề buộc phải tìm tòi tư liệu, dẫn chứng từ trên mạng Internet hoặc trong sách báo. VD1: Bàn về hiện tượng Nguyễn Hữu Ân- Bạn sẽ chia chiếc bánh thời gian cho ai? (SGK) Một số câu hỏi: Nguyễn Hữu Ân là ai? Hành động cao đẹp nào của Nguyễn Hữu Ân được đề cao? Động lực nào thúc đẩy Nguyễn Hữu Ân có hành động đó? Có tấm gương nào biết chia sẻ chiếc bánh thời gian của mình cho người khác như Nguyễn Hữu Ân không? Tìm một vài dẫn chứng? Nên chia sẻ chiếc bánh thời gian như thế nào để vừa thực hiện được những kế hoạch riêng của bản thân, vừa có thể giúp đỡ người khác? … VD2: Bàn về vấn đề tiết kiệm, bảo tồn năng lượng Một số câu hỏi Năng lượng là gì? Những nguồn năng lượng đang được con người sử dụng? Vì sao cần tiết kiệm, bảo tồn năng lượng? Những cách tiết kiệm, bảo tồn năng lượng có hiệu quả? Bản thân bạn đã làm gì để góp phần tiết kiệm, bảo tồn năng lượng … ND-BP 4: Giúp HS nhận ra các dạng đề văn NLXH Trước khi hướng dẫn HS lập dàn ý cho một đề văn NLXH cụ thể, học sinh cần phân biệt được ba dạng đề, vì ba dạng này sẽ có những yêu cầu khác biệt. Để giúp HS nhận ra các dạng đề một cách dễ dàng, hứng thú, GV có thể cung cấp cho HS một trang đề văn NLXH sẽ được thực hiện trong suốt học kỳ. Trang đề có thể chia sẵn thành NL tư tưởng đạo lý, NL hiện tượng, vấn đề cuộc sống. Trang đề cũng có thể là tập hợp của các dạng đề khác nhau để HS nhận dạng, thực hành. Các trang đề nên được tập hợp thành 1 tờ in A4 hai mặt để HS dễ photocopy (Xem các trang minh họa 1a-b và 2a-b ở các trang 8,9,10,11tiếp sau) Trang minh họa 1a ĐỀ NGHỊ LUẬN XÃ HỘI (Thực hành trong các tiết TCV) Nghị luận một vấn đề tư tưởng đạo lý: Trình bày suy nghĩ của anh (chi) về những lời khuyên sau: ‘Không phải lúc nào hành động cũng mang lại hạnh phúc, nhưng bạn sẽ không thể cảm thấy hạnh phúc nếu không có hành động” (Benjamin Disraeli) “Đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại núi e sông” (Nguyễn Bá Học) (Đề TLV1, Sách Ngữ Văn 12 Nâng cao, tập 1, tr 41) Hãy giữ vững truyền thống yêu thương con người của dân tộc ta. Và dừng bao giờ làm ngơ trước đồng loại của mình. (Nguyễn Hoa) Phê phán thái độ thờ ơ, ghẻ lạnh đối với con người cũng quan trọng và cần thiết như ca ngợi lòng vị tha, tình đoàn kết (Đề TLV1, Sách Ngữ Văn 12 Nâng cao, tập 1, tr 41) Phải chăng “Bạn là người đến với ta khi mọi người đã bỏ ta đi”? (Đề TLV1, Sách Ngữ Văn 12 Nâng cao, tập 1, tr 41) “Thành đạt không phải là do người giúp đỡ, mà là do có lòng tự tin” (Abraham Lincohn) “Một khi bạn có được một niềm tin sắt đá, bạn sẽ không dễ dàng buông tay đầu hàng trước những nghịch cảnh. Chính niềm tin sẽ tiếp thêm nguồn năng lượng vô biên giúp bạn vững vàng ý chí để vượt qua mọi khó khăn, thử thách” (Keith D. Harrell) “Không có khái niệm “mất tất cả” khi chúng ta còn niềm tin và sức mạnh” “Hãy biến nghịch cảnh thành cơ hội để đạt được những điều tốt đẹp hơn” Lý tưởng là ngọn đèn chỉ đường,. Không có lý tưởng thì không có phương hướng kiên định, mà không có phươgn hướng thì không có cuộc sống” (Lev Tolstoy) ( Đề NL về 1 tư tưởng đạo lý- Sách Ngữ Văn 12 Nâng cao, tập 1, tr 175) “Một con người làm sao có thể nhận thức được chính mình? Đó không phải là việc của tư duy mà là của thực tiễn. Hãy ra sức thựxc hiện bổn phận của mình, lúc đó bạn lập tức hiểu được giá trị của mình” (Gớt) (Đề NL về 1 tư tưởng đạo lý- Sách Ngữ Văn 12 Nâng cao, tập 1, tr 175) “Con người được sinh ra lhông phải để dành cho thất bại. con người có thể bị hủy diệt nhưng không thể bị đánh bại” (Ernest Hemingway) Phải chăng “Cái chết không phải là điều mất mát lớn nhất trong cuộc đời. Sự mất mát lớn nhất là bạn để cho tâm hồn tàn lụi ngay khi còn sống” (Noóc-man Ku-sin)? (Đề Ôn tập- Sách Ngữ Văn 12 Nâng cao, tập 1, tr 252) “Chúng ta phải thực hiện đức tính trong sạch, chất phác hăng hái, cần kiệm; xóa bỏ hết những vết tích nô lệ trong tư tưởng và hành động” (Hồ Chí Minh) (Đề NL về 1 tư tưởng đạo lý- Sách Ngữ Văn 12 Nâng cao, tập 1, tr 175) “Muốn biết phải hỏi, muốn giỏi phải học” (Tục ngữ Việt Nam) “Con đường học vấn dài lâu- Tìm đi lối tắt dễ đâu mà thành” (Ngạn ngữ Nhật) “Hãy lắng nghe lời khuyên của người khác, và sống bằng trí thông minh của mình” (Ngạn ngữ Uz-bê-kis-tan) “Đừng đánh giá quyển sách qua cái bìa” Trong việc nhận thức, Ăng-ghen có phương châm: “Thà phải tìm hiểu sự thật suốt đêm, còn hơn nghi ngờ nó suốt đời”.Các-mác thì thích câu châm ngôn: “Hoài nghi tất cả”. Anh (chị) hiểu thế nào về những ý tưởng trên? (Đề văn thi chọn HS giỏi,VN, 2007) Trang minh họa 1b Nghị luận về một vấn đề cuộc sống Nói và làm trong cuộc sống (Đề luyện tập, Sách Ngữ Văn 12 Nâng cao, tập 1, tr 149) Mối quan hệ giữa tiền bạc và hạnh phúc Nêu những suy nghĩ của anh (chị) về gương mặt người anh hùng thời kỳ đổi mới qua đoạn văn sau đây: “Nổi bật trong chương trình “Vinh quang Việt Nam” là chín người trong gia đình ông Nguyễn Phước Bửu Thanh đã hơn 130 lần tự nguyện hiến 32.000cc máu để cứu sống hàng trăm người. Hiện nay gia đình ông đã trở thành “ngân hàng máu sống” của Bệnh viện Trung ương Huế. Cả nhà ông có cả ba nhóm máu A,B,O, khi có ai cần tiếp máu chỉ cần gọi điện thoại là gia đình ông sẵn sàng…” (Theo http:// nguoilaodong.com) (Đề TLV 6, Sách Ngữ Văn 12 Nâng cao, tập I1, tr 105) Từ cuộc đời của các nhân vật phụ nữ trong hai tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” (Tô Hoài) và “Vợ nhặt” (Kim Lân), anh (chị) hãy phát biểu suy nghĩ của mình về số phận người phụ nữ xưa và nay. (Đề TLV7 - Sách Ngữ Văn 12 Nâng cao, tập II, tr 153) Giữa một vùng sỏi đá khô cằn, cây hoa dại vẫn mọc lên và nở những chùm hoa thật đẹp. Phát biểu những suy nghĩ của anh (chị) được gợi ra từ hiện tượng nêu trên (Đề TLV 6, Sách Ngữ Văn 12 Nâng cao, tập II, tr 108) Viết bài văn nói với những liệt sĩ vô danh đang nằm ở nghĩa trang Trường Sơn để đọc trong buổi sinh hoạt về chủ đề “Tuổi trẻ nhớ về cội nguồn” (Đề TLV 6, Sách Ngữ Văn 12 Nâng cao, tập II, tr 108) Trình bày ý kiến riêng của bạn về hình ảnh giới trẻ VN hôm nay. Có phải các bạn đã thay đổi quá nhanh? Tốt hơn? Hay chưa tốt? Từ tác phẩm “Số phận con người” (Scholokhov), nghĩ về nghị lực và tuổi trẻ(Đề TLV7 - Sách Ngữ Văn 12 Nâng cao, tập II, tr 153) Niềm hạnh phúc khi được sống thực với mình và với mọi người. Tầm quan trọng của việc tìm hiểu, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong thời đại giao lưu hội nhập quốc tế ngày nay. Việc giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt & Ngôn ngữ giao tiếp của giới trẻ hiện đại Vấn đề ô nhiễm môi trường: Ô nhiễm đất, nguồn nước, không khí…Nguyên nhân, giải pháp “Trái đất là ngôi nhà chung của chúng ta”. Từ thông điệp này và thực trạng môi trường ở khu vực anh (chị) đang sống, hãy trình bày những suy nghĩ của mình về vấn đề môi trường và trách nhiệm của mỗi cá nhân đối với vấn đề bảo vệ môi trường. Suy nghĩ của anh (chị) về những con số sau: “Trung bình mỗi năm có khoảng 12.000 người chết và trên 20.000 người bị thương do tai nạn giao thông, trong đó trẻ em chiếm 35%” (báo điện tử Việt Nam, 07/12/2010) Đường đòi là một chiếc thang không hết nấc, việc học là quyển sách không có trang cuối cùng (Kalinin) Trang minh họa 2a ĐỀ NGHỊ LUẬN XÃ HỘI TRÍCH TỪ TÀI LIỆU TẬP HUẤN GIÁO

File đính kèm:

  • docSKKN NCKHSPUD van KH2011 Huong dan HS lam van NL Xa hoimot cach hung thu.doc