Ngữ tính từ ( hay còn gọi là cụm tính từ hoặc tính ngữ) là tổ hợp từ tự do không có quan hệ từ đứng đầu, có quan hệ chính phụ giữa thành tố chính với thành tố phụ, và thành tố chính là tính từ.
Nói chung, xét về cấu tạo, tính ngữ khá giống với cụm động từ gồm ba phần: phần trung tâm, phần phụ trước và phần phụ sau.
Các thành tố phụ của cụm tính từ gồm có hai loại: thành tố phụ là phó từ và thành tố phụ là thực từ.
Phần lớn các thành tố phụ là phó từ xuất hiện ở cụm động từđồng thời cũng có thể làm thành tố phụ trong tính ngữ.
39 trang |
Chia sẻ: luyenbuitvga | Lượt xem: 3098 | Lượt tải: 1
Bạn đang xem trước 20 trang mẫu tài liệu Đề tài: Ngữ tính từ, để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Trường Đại Học Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh
CÚ PHÁP HỌC
ĐỀ TÀI: NGỮ TÍNH TỪ
GVHD:
SVTH: Nhóm 3
LÊ THỊ GIANG K37.601.023
TRẦN THỊ THANH HẰNG K37.601.027
BÙI THANH LAM K37.601.041
NGUYỄN NHƯ NGUYỆN K37.601.071
LÂM THỊ HUYỀN TRÂN K37.601.161
NGUYỄN NGỌC TUYỀN K37.601.162
HUỲNH THỊ THANH TUYỀN K37.601.163
LÊ TẤN ĐẠT K37.601.166
MỤC LỤC
V. Bài tập ngữ tính từ…………………………………………………………..10
VI. Ôn tập chương……………………………………………………………...12
VII. Bài tập ôn tập chương……………………………………………………..15
Khái niệm ngữ tính từ
Ngữ tính từ ( hay còn gọi là cụm tính từ hoặc tính ngữ) là tổ hợp từ tự do không có quan hệ từ đứng đầu, có quan hệ chính phụ giữa thành tố chính với thành tố phụ, và thành tố chính là tính từ.
Nói chung, xét về cấu tạo, tính ngữ khá giống với cụm động từ gồm ba phần: phần trung tâm, phần phụ trước và phần phụ sau.
Các thành tố phụ của cụm tính từ gồm có hai loại: thành tố phụ là phó từ và thành tố phụ là thực từ.
Phần lớn các thành tố phụ là phó từ xuất hiện ở cụm động từđồng thời cũng có thể làm thành tố phụ trong tính ngữ.
Phần trung tâm của tính ngữ
Xét tính từ ở vị trí trung tâm cụm từ có mối quan hệ với hai loại thành tố phụ là hư từ và thực từ, cụ thể:
Trường hợp thứ nhất: xét ở khả năng kết hợp với những phụ từ chỉ mức độ như: rất, lắm, quá…
Những tính từ thuộc trường hợp này gồm:
+ Những tính từ có thang độ( hay tính từ tương đối): tức là những từ có thể kết hợp được với những phụ từ chỉ mức độ ( rất, hơi, khí). Ví dụ:
Tốt, đẹp, xấu, thơm, sạch, chung chung, ấm áp,ảm đạm,…
+ Những tính từ không có thang độ ( hay tính từ tuyệt đối): tức là những từ không kết hợp được với những phụ từ chỉ mức độ.Ví dụ:
Bạch kim, sâu thẳm, tận cùng, anh em, lẫn lộn, sự trong sạch, sự tốt đẹp, tính từ số đếm,…
Trường hợp hai: xét ở khả năng kết hợp với những thực từ ở phía sau trong tư cách bổ ngữ của tính từ, tức do nội dung ý nghĩa của tính từ đòi hỏi.
Những tính từ thuộc trường hợp này gồm:
Tính từ chỉ “lượng”, khi không có chủ ngữ chỉ chủ thể của thứ lượng nêu ở tính từ, các tính từ thuộc lớp con này là : đông, đầy, vắng, thưa, mau, nhiều, ít.
Ví dụ :
Sân trường vắng người.
Tờ giấy kẻ này thưa dòng.
Cây xoài này nhiều quả.
Trên phố đông người.
Trong mối quan hệ chỉnh thể – bộ phận, tính từ có tác dụng nêu tình trạng của bộ phận trong chỉnh thể cũng thường đòi hỏi bổ ngữ chỉ bộ phận đó.
Ví dụ :
Quả dưa hấu này mỏng vỏ.
Cây xoài trước sân nhà bị vàng lá.
Tính từ chỉ quan hệ định vị tương đối trong không gian và trong thời gian đòi hỏi bổ ngữ để làm đối tượng đối chiếu, và qua đó mà xác định được điểm không gian hay điểm thời gian cần thiết.
Ví dụ :
Bây giờ đã gần tối rồi.
Từ xa xe buýt đang tới.
Một số tính từ diễn đạt các tính chất có hàm ý đánh giá đòi hỏi bổ ngữ chỉ rõ cái phương diện mà nội dung của tính từ phát huy tác dụng.
Ví dụ :
Tốt gỗ hơn tốt nước sơn.
Giỏi toán, kém văn, dễ ăn, khó xơi, khéo ăn nói,…
Phần phụ trước của ngữ tính từ (B1)
Hầu hết tính từ Tiếng Việt có thể kết hợp với các từ chỉ mức độ: hơi, rất, khá, quá, lắm, vô cùng, cực kỳ. Những từ cực (cực kỳ), tuyệt, quá có xu hướng đứng sau nhiều hơn do đó khi chuyển lên phía trước thường có tác dụng nhấn mạnh.
Ví dụ: tuyệt vời, tuyệt đẹp
cực kỳ ngon, quá lạnh..
Từ rất ở vị trí trước tính từ và từ cực, cực kỳ, tuyệt, quá ở cả hai vị trí trước và sau tính từ, từ lắm ở sau tính từ có thể phân bổ sung với nhau: tức là khi đã có mặt từ đứng trước tính từ thì những từ đứng sau không xuất hiện nữa.
Ví dụ: rất xinh, cực kỳ xinh, tuyệt xinh, quá xinh.
không sử dụng: rất xinh lắm, cực xinh quá, tuyệt xinh lắm.
Ngoài những từ có tính chất chuyên dung trên, phần phụ trước của ngữ tính từ có thể xuất hiện hầu hết các phụ từ đi với động từ (trừ hãy, đừng, chớ).
Một số tính từ chỉ phẩm chất đạo đức, cách ứng xử của con người lại có khả năng kết hợp nhóm phụ từ cầu khiến, khuyên ngăn tạo thành các ngữ tính từ.
Ví dụ: hãy chăm chỉ- đừng độc ác
hãy trung thực- đừng giả dối.
Trong bài thơ “Mời trầu” của Hồ Xuân Hương có câu
Đừng xanh như lá, đừng bạc như vôi.
Từ những trường hợp trên thấy được rằng từ đừng có một năng lực đáng kể trong việc tạo lập cụm từ làm vị ngữ (hoặc có tính chất vị ngữ) cả khi đối với tính từ hoặc cụm danh từ.
Các từ hơi, khí cũng đứng trước các động từ chỉ tâm lý, tình cảm. Cho nên giữa hai lớp từ này ( tính từ và động từ chỉ tâm lý- tình cảm) đường ranh giới rất nhòe, mặc dù với tư các là động từ thì có thể đặt hãy, đừng ở phía trước.
Ví dụ: hơi vụng, khí vụng
Phần phụ trước trong ngữ tính từ biểu thị: quan hệ thời gian (đã, đang, sẽ,..), sự tiếp diễn tương tự ( lại, còn, cũng,..), mức độ (rất, quá, lắm,..), …
PHẦN PHỤ SAU (B2) CÓ THỂ LÀ
Những phụ từ làm thành tố phụ sau cụm tính từ.
Phụ từ chuyên dụng làm thành tố phụ sau cụm tính từ là từ lắm. ngoài ra thì có những phụ từ như: cực, cực kì, quá , tuyệt, …thường đứng sau tính từ. Đây là các phó từ chỉ mức độ.
Ví dụ:
Anh ấy dũng cảm lắm.
Chiếc áo này đẹp tuyệt.
Bánh cậu làm ngon quá.
Nam học giỏi cực kì.
Tuy nhiên những phụ từ này cũng thường dễ dàng chuyển lên phía trước tính từ với sắc thái nhấn mạnh.
Ví dụ:
Chiếc áo này tuyệt đẹp.
Bánh cậu làm quá ngon.
Nam học cực kì giỏi.
Những thực từ làm thành tố phụ sau của cụm tính từ.
Đặt trong mối quan hệ với tính từ làm thành tố chính, chúng ta có thể chia những thực từ thành tố phụ sau (với tư cách bổ ngữ tính từ) ra những nhóm nhỏ để tiện miêu tả.
Thực từ - bổ ngữ làm thành tố phụ sau của tính từ chỉ lượng và tính từ chỉ tình trạng trong bộ phận trong chỉnh thể, thường là những danh từ.
Ví dụ:
Làm như thế là sai phương pháp.
Sầu riêng này mỏng cơm.
Ngoài sân đầy tuyết
- Khi những danh từ này được chuyển lên trước tính từ thì chúng có tư cách của chủ ngữ và tính tữ bây giờ không đòi hỏi bổ ngữ chỉ chủ thể nữa.
Ví dụ:
Cơm sầu riêng này mỏng
Tuyết đầy ngoài sân.
Thực từ - bổ ngữ làm thành tố phụ sau của tính từ chỉ quan hệ định vị. có nhiệm vụ nêu lên cái mốc, cái điểm không gian hoặc thời gian, Phần phụ sau biểu thị vị trí(này, kia, ấu, nọ,…)
Ví dụ:
Với quan hệ định vị trong không gian, khi hoàn cảnh nói đủ rõ thì có thể không dùng thành tố phụ - bổ ngữ.
Ví dụ:
Trường tôi quá xa.
Đừng đến gần.
Thực từ - bổ ngữ làm thành tố phụ sau của tính từ chỉ phương diện, hướng diễn biến.
Phương diện
Ví dụ:
Con bé giỏi về âm nhạc.
Bức tranh đẹp về màu sắc.
Hướng diễn biến
Ví dụ:
Trời đang ấm dần lên.
Kết quả học tập đang xuống thấp.
Thành tố phụ sau có thể kết hợp trực tiếp với thành tố chính. Đòng thời có thể kết hợp gián tiếp với thành tố chính. Như trường hợp một số kết cấu giới ngữ.
Ví dụ :
Bông hoa đẹp tuyệt.
Việc ấy rõ ràng như ban ngày.
Chị ấy thật khổ về đường chồng con.
Tôi rất vui về việc này.
BÀI TẬP VỀ THÀNH TỐ PHỤ SAU – CỤM TÍNH TỪ.
…trời bây giờ trong vắt, thăm thẳm và cao, mặt trăng nhỏ lại, sáng vằng vặt ở trên không
(Thạch Lam)
còn trẻnhư một thanh niên
Nó sun sun như con đỉa
Nó chần chẫn như cái đòn càn
Nó bè bè như cái quạt thóc
Nó sừng sững như cái cột đình
Nó tun tủn như cái chổi sể cùn
Gợi tả hình ảnh được đem ra so sánh khác xa hình ảnh con voi-> phê phán nhận thức hạn hẹp và cái nhìn chủ quan của năm ông thầy bói.
Ai cũng hết sức tập trung làm việc
…cái tiết bóp lẫn vào cháo, ngọt lừ lừ, trơn muồn muột, rau xanh ong óng, những ngọn rau muống chẻ nhỏ xanh muôn muốt, một thứ xanh ngăn ngắt, một thứ đỏ tai tái...
… miếng cá trắngcứ nõn ra, trông vừa nục nạc vừa khô ráo, rất xinh xắn.
(Vũ Bằng).
V. BÀI TẬP NGỮ TÍNH TỪ
1.
khoáng đạt, rất dễ mến
hun hun màu đất thó
vẫn còn căng như da mặt người trẻ
không dày lắm
chắc như rễ tre và đen nhánh
to, sáng quắc
rậm đen
kỳ dị và hơi to quá cỡ
bạc thếch
2.
cao lớn với những đường nét thô kệch
mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới
rộng và cong như lưng một chiếc thuyền
bạc phếch và rách rưới
ÔN TẬP CHƯƠNG
KHÁI LƯỢC VỀ ĐOẢN NGỮ
Vị trí của đoản ngữ
Kết hợp theo quan hệ đẳng lập
Kết hợp theo quan hệ tường thuật
Kết hợp theo quan hệ chính phụ
Ở trong hệ thống các tổ hợp tự do , đoản ngữ chiếm 1 vị trí riêng biệt
Xét về mối tương quan giữa đặc trưng của toàn tổ hợp với đặc trưng của thành tố thì đoản ngữ cùng liên hợp đứng về một phía , đối lập hẳn với mệnh đề
Xét về phương diện thành tố chính tham gia vào tổ hợp , đoản ngữ và mệnh đề lại đứng về một phía , đối lập với liên hợp .
Thành tố trung tâm của đoản ngữ
- Là thành tố quan trọng nhất .
Thành tố phụ của đoản ngữ
Thành tố phụ không có quan hệ trực tiếp với các yếu tố khác nằm ngoài đoản ngữ . Nó chỉ có một quan hệ trực tiếp căn bản là quan hệ với trung tâm . Không phải bất kì một yếu tố nào có mặt trước và sau của trung tâm cũng đều là thành tố phụ của đoản ngữ .
Kiểu đoản ngữ và các biến dạng của 1 kiểu đoản ngữ
Có thể xác lập được một số kiểu đoản ngữ khác nhau , ví dụ kiểu đoản ngữ có danh từ làm trung tâm , đoản ngữ có động từ làm trung tâm , đoản ngữ có tính từ làm trung tâm .
NGỮ DANH TỪ
Đặc điểm về tổ chức :
a) Bộ phận trung tâm , do danh từ đảm nhận , chiếm vị trí ngay giữa lòng đoản ngữ
b) Các thành tố phụ , gọi chung là định tố , chia làm 2 bộ phận , một số được phân bố trước trung tâm tạo thành phần đầu của đoản ngữ , một số nữa được phân bố sau trung tâm , tạo thành phần cuối của đoản ngữ .
Phần đầu
Phần trung tâm
Phần cuối
Việc chia thành tố phụ ra làm 2 bộ phận , định tố đầu và định tố cuối , không phải là 1 sự phân chia chỉ căn cứ đơn thuần vài vị trí của chúng trong đoản ngữ .
Phần trung tâm của danh ngữ
- Trong việc xác định thành tố trung tâm của danh ngữ có thể nói rằng cần phải chia thành 2 trường hợp để xử lí :
a)Trường hợp dễ xác định trung tâm
b)Trường hợp khó xác định trung tâm
Phần đầu của danh ngữ
-Ở phần đầu của danh ngữ , có cả thảy 3 loại thành tố phụ , 3 loại định tố
Định tố “cái”
Định tố chỉ số lượng
Định tố chỉ ý nghĩa toàn bộ
Phần cuối danh ngữ
-Ở phần cuối danh ngữ , có thể có 2 loại định tố có tổ chức khác nhau :
Loại định tố chỉ gồm một từ
Loại định tố do một mệnh đề đảm nhiệm .
NGỮ ĐỘNG TỪ
Nhìn chung, động ngữ cũng có những nét giống danh ngữ, về mặt tổ chức nội bộ:
Động ngữ chia làm 3 phần: phần giữa dành cho trung tâm và phần đầu, phần cuối dành cho các thành tố phụ:
Phần đầu
Phần trung tâm
Phần cuối
Động ngữ có khả năng xuất hiện dưới những dạng chỉ có hai phần:
Dạng chỉ có phần đầu và phần trung tâm
Phần đầu
Phần trung tâm
Dạng chỉ có phần trung tâm và phần cuối
Phần trung tâm
Phần cuối
Động ngữ cũng có hiện tượng khó lược bỏ trung tâm và hiện tượng thành tố phụ trở nên cần thiết khi trung tâm hư hóa
Động ngữ cũng có xu thế bố trí thành tố phụ y như cách bố trí thành tố phụ xung quanh danh từ
BÀI TẬP ÔN TẬP CHƯƠNG
Câu 1
vẫn còn rất đẹp
trông thật gợi cảm
có một ý tưởng mới nảy ra trong cơn phấn khích
những tiếng rên khi dài, khi ngắn, khi thiu thỉu buồn xo, lúc nghe như tiếng nấc nghẹn ngào
những kỷ niệm mà chúng tôi có trên mỗi cánh đồng
chưa bao giờ thấy cái màu đỏ lạ lùng ấy
mỗi lần ghe vải ghé trước bến
đã tự học cách định hướng bằng mặt trời, bằng sao đêm, bằng gió, bằng ngọn cây…
một đứa trẻ xinh đẹp nhưng hỗn hào, cáu kỉnh
câu chuyện về những lá bùa chị giấu trong áo gối, ém dưới chiếu, hay kẹt giường
buộc mình đừng yêu thương, quyến luyến bất cứ ai
tất cả những gì tốt đẹp trong quá khứ
Câu 2
1)
Bởi tôi ăn uống điều độ và làm việc có chừng mực nên tôi chóng lớn lắm.
Cụm động từ: ăn uống điều độ và làm việc có chừng mực
Chức năng: làm vị ngữ trong câu.
Cụm tính từ: chóng lớn lắm
Chức năng: làm vị ngữ trong câu.
Chẳng bao lâu tôi đã trở thành một chàng dế thanh niên cường tráng.
Cụm động từ: đã trở thành một chàng dế thanh niên cường tráng
Chức năng: làm vị ngữ trong câu.
Cụm danh từ: một chàng dế : cụm danh từ.
Chức năng: làm bổ ngữ cho cụm động từ trước nó.
Cụm tính từ: thanh niên cường tráng
Chức năng: làm bổ ngữ cho cụm danh từ đằng trước.
Đôi càng tôi mẫm bóng.
Cụm danh từ: Đôi càng tôi
Chức năng:làm chủ ngữ trong câu.
Những cái vuốt ở chân, ở khoeo cứ cứng dần và nhọn hoắt.
Cụm danh từ: Những cái vuốt ở chân, ở khoeo
Chức năng: làm chủ ngữ.
Cụm tính từ: cứng dần và nhọn hoắt
Chức năng: làm vị ngữ, định ngữ cho cụm danh từ
Thỉnh thoảng,muốn thử sự lợi hại của những chiếc vuốt,tôi co cẳng lên, đạp phanh phách vào các ngọn cỏ.
Cụm động từ: muốn thử sự lợi hại của những chiếc vuốt
Chức năng: làm chủ ngữ.
Cụm danh từ: sự lợi hại
Chức năng: làm bổ ngữ cho cụm động từ trước nó.
Cụm danh từ: những chiếc vuốt
Chức năng: làm định ngữ cho cụm danh từ trước nó.
Cụm động từ: co cẳng lên , đạp phanh phách vào các ngọn cỏ
Chức năng: làm vị ngữ trong câu.
Cụm danh từ: các ngọn cỏ
Chức năng: làm bổ ngữ cho cụm động từ.
Những ngọn cỏ gãy rạp,y như có nhát dao vừa lia qua.
Cụm danh từ: Những ngọn cỏ gãy rạp
Chức năng: làm chủ ngữ trong câu.
Cụm động từ: gãy rạp
Chức năng: làm định ngữ cho cụm danh từ.
Cụm động từ: có nhát dao vừa lia qua
Cụm danh từ: nhát dao
Chức năng: bổ ngữ cho cụm động từ.
Cụm động từ: lia qua
Chức năng: làm định ngữ cho cụm danh từ trước nó.
Đôi cánh tôi,trước kia ngắn hủn hoẳn bây giờ thành cái áo dài kín xuống tận chấm đuôi.
Cụm danh từ: Đôi cánh tôi
Chức năng: làm chủ ngữ
Cụm tính từ: trước kia ngắn hủn hoẳn
Chức năng: định ngữ cho cụm danh từ.
Cụm động từ: thành cái áo
Cụm tính từ: dài kín xuống tận chấm đuôi
Chức năng: làm bổ ngữ cho cụm động từ.
Mỗi khi tôi vũ lên,đã nghe tiếng kêu phành phạch giòn giã.
Cụm động từ: vũ lên
Cụm động từ: đã nghe tiếng phành phạch giòn giã
Cụm danh từ: tiếng phành phạch giòn giã
Chức năng: làm bổ ngữ cho cụm động từ.
Lúc tôi đi bách bộ thì cả người tôi rung rinh một màu nâu bóng mỡ soi gương được và rất ưa nhìn.
Cụm động từ: đi bách bộ
Cụm danh từ: cả người tôi
Cụm động từ: rung rinh một màu nâu bóng mỡ soi gương được và rất ưa nhìn.
Cụm danh từ: một màu nâu bóng mỡ soi gương được
Hai cái răng đen nhánh lúc nào cũng nhai ngoàm ngoạp như hai lưỡi liềm máy làm việc.
Cụm danh từ: Hai cái răng
Cụm tính từ: đen nhánh
Chức năng: định ngữ cho cụm danh từ.
Cụm động từ: nhai ngoàm ngoạp
Cụm danh từ: hai lưỡi liềm máy làm việc
Sợi râu tôi dài và uốn cong một vẻ rất đỗi hùng dũng.
Cụm danh từ: sợi râu tôi
Cụm tính từ: dài và uốn cong
Chức năng: bổ ngữ cho cụm danh từ.
Cụm danh từ: một vẻ rất đỗi hùng dũng.
Tôi lấy làm hãnh diện với bà con vì cặp râu ấy lắm.
Cụm tính từ: hãnh diện với bà con
Cụm danh từ: cặp râu ấy
Cứ chốc chốc tôi lại trịnh trọng và khoan thai đưa cả hai chân lên vuốt râu.
Cụm tính từ: trịnh trọng và khoan thai
Cụm động từ: đưa cả hai chân lên vuốt râu
Cụm danh từ: cả hai chân
Chức năng: bổ ngữ cho cụm động từ.
Cụm động từ: vuốt râu
Chức năng: định ngữ cho cụm danh từ trước nó.
2)
Và tôi chợt nghĩ, sự bất thường của Điền,chẳng qua nằm trong chuỗi rất dài của sự trừng phạt.
Cụm danh từ: sự bất thường của Điền
Cụm động từ: nằm trong chuỗi rất dài của sự trừng phạt.
Chức năng: định ngữ cho cụm danh từ.
Cụm tính từ: rất dài của sự trừng phạt
Cụm danh từ: sự trừng phạt
Điều đó lý giải cho việc thiên nhiên ngày càng trở nên hung dữ hơn , khắc nghiệt hơn.
Cụm động từ: trở nên hung dữ hơn , khắc nghiệt hơn.
Cụm tính từ: hung dữ hơn , khắc nghiệt hơn.
Chức năng: bổ ngữ cụm động từ.
Bằng những sấm chớp,gầm gừ,dường như trời đất đã nín nhịn nhiều,cuồng nộ bắt đầu rồi đây.
Cụm danh từ: những sấm chớp,gầm gừ
Cụm động từ: đã nín nhịn nhiều
Có lần, tôi lấy cao su gói lại mớ mùng chiếu,nhìn mưa thè lưỡi ướt nhão nhớt vào lều,khoái trá nếm từng tấc đất,tôi tự hỏi,không biết chỗ khác (chỗ không có chúng tôi) có mưa nhiều như vầy không.
Cụm động từ: lấy cao su gói lại mớ mùng chiếu
Cụm danh từ: mớ mùng chiếu
Cụm tính từ: khoái trá nếm từng tấc đất
Cụm động từ: nếm từng tấc đất
Chức năng: bổ ngữ cho cụm tính từ.
Cụm danh từ: từng tấc đất
Cụm động từ: có mưa nhiều như vầy không
Cụm danh từ: mưa nhiều
Cụm tính từ: nhiều như vầy không
Ý nghĩ đó xuất hiện triền miên trong đầu tôi, rằng trời chỉ trút mưa,trút nắng ở nơi chúng tôi dừng chân lại.
Cụm động từ: xuất hiện triền miên trong đầu tôi
Cụm động từ: trút mưa,trút nắng
Nỗi bẽ bàng của những người đàn bà bị cha tôi bỏ rơi (và cộng thêm niềm đau vỡ của những người quay quanh họ) đã thấu qua những tầng mây.
Cụm danh từ: Nỗi bẽ bàng của những người đàn bà
Cụm danh từ: những người đàn bà
Cụm danh từ: niềm đau vỡ của những người quay quanh họ
Cụm danh từ: những người quay quanh họ
Chức năng: làm định ngữ cho cụm danh từ
Cụm động từ: quay quanh họ
Cụm động từ: đã thấu qua những tầng mây
Cụm danh từ: những tầng mây
Chức năng: làm bổ ngữ cho cụm động từ
File đính kèm:
- cum tinh tu(1).doc