Một số kinh nghiệm khi học và làm bài thi trắc nghiệm Vật lí

Hiện nay, trong các kì thi tốt nghiệp PTTH, tuyển sinh ĐH, CĐ, các môn thi bằng hình thức trắc nghiệm trong đó có môn Vật Lí, các câu hỏi trắc nghiệm thường sử dụng là loại câu trắc nghiệm nhiều lựa chọn (4 lựa chọn). Loại câu trắc nghiệm này có hai phần: phần đầu là phần dẫn, phần sau là các phương án trả lời. Trong các phương án chọn, chỉ có duy nhất một phương án đúng hoặc phương án đúng nhất; các phương án khác là phương án có tác dụng “gây nhiểu” hay còn gọi là “mồi nhữ” (từ dùng của quí thầy cô ở trường ĐHSP Hồ Chí Minh). Trong một đề thi sẽ có một số câu dễ và một số câu khó để phân thứ bậc cho các sĩ tử. Câu dễ là những câu kiểm tra lí thuyết đơn thuần hoặc tính toán đơn giản với "mồi nhữ" không mấy hấp dẫn. Câu hơi khó là câu cần phải có sự suy luận, tính toán kĩ lưỡng với các "mồi nhữ" hấp dẫn. Câu cực khó là câu cần phải có sự đầu tư sâu rộng: Nếu đó là câu lí thuyết thì đòi hỏi phải hiểu rỏ vấn đề và suy luận đúng hướng, trong câu đó sẽ có những "mồi nhữ" cực kì hấp dẫn. Nếu đó là câu hỏi cần phải có sự tính toán thì đó là sự tính toán khá phức tạp, các "mồi nhữ" là các số liệu khá có lí.

doc2 trang | Chia sẻ: maiphuongtl | Lượt xem: 1436 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Một số kinh nghiệm khi học và làm bài thi trắc nghiệm Vật lí, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
MỘT SỐ KINH NGHIỆM KHI HỌC VÀ LÀM BÀI THI TRẮC NGHIỆM VẬT LÍ Hiện nay, trong các kì thi tốt nghiệp PTTH, tuyển sinh ĐH, CĐ, các môn thi bằng hình thức trắc nghiệm trong đó có môn Vật Lí, các câu hỏi trắc nghiệm thường sử dụng là loại câu trắc nghiệm nhiều lựa chọn (4 lựa chọn). Loại câu trắc nghiệm này có hai phần: phần đầu là phần dẫn, phần sau là các phương án trả lời. Trong các phương án chọn, chỉ có duy nhất một phương án đúng hoặc phương án đúng nhất; các phương án khác là phương án có tác dụng “gây nhiểu” hay còn gọi là “mồi nhữ” (từ dùng của quí thầy cô ở trường ĐHSP Hồ Chí Minh). Trong một đề thi sẽ có một số câu dễ và một số câu khó để phân thứ bậc cho các sĩ tử. Câu dễ là những câu kiểm tra lí thuyết đơn thuần hoặc tính toán đơn giản với "mồi nhữ" không mấy hấp dẫn. Câu hơi khó là câu cần phải có sự suy luận, tính toán kĩ lưỡng với các "mồi nhữ" hấp dẫn. Câu cực khó là câu cần phải có sự đầu tư sâu rộng: Nếu đó là câu lí thuyết thì đòi hỏi phải hiểu rỏ vấn đề và suy luận đúng hướng, trong câu đó sẽ có những "mồi nhữ" cực kì hấp dẫn. Nếu đó là câu hỏi cần phải có sự tính toán thì đó là sự tính toán khá phức tạp, các "mồi nhữ" là các số liệu khá có lí. Sau đây là một số “chiêu thức” mà bản thân đã “trắc nghiệm” qua các đề thi của Bộ GD & ĐT năm 2007 và qua quá trình ra đề, chấm bài kiểm tra cho học sinh theo phương pháp trắc nghiệm khách quan. 1. Đọc, hiểu rồi tự tóm tắt những kiến thức cơ bản của từng bài trong sách giáo khoa. Kiến thức cơ bản thì có thể thầy cô giảng dạy đã hệ thống lại hoặc sách tham khảo đã viết nhưng tự mình làm rồi so sánh, điều chỉnh, bổ sung thì hay hơn. 2. Giải các bài tập tự luận theo từng chủ đề, qua mỗi bài tự luận, rút ra một kết luận, một cách giải nhanh, một công thức tính toán nhanh cho một trường hợp tương tự nào đó (trường hợp này nếu được thầy cô hướng dẫn thì quá tốt). Ví dụ: Cho quang hệ gồm hai thấu kính L1 và L2 có tiêu cự f1 = 20cm, f2 = -10cm đặt đồng trục, cách nhau một khoảng O1O2 = l. Đặt trước L1 (theo chiều truyền của ánh sáng) vật sáng AB vuông góc với trục chính của hệ. Xác định l để số phóng đại ảnh qua hệ không phụ thuộc vào vị trí đặt vật AB. Tính số phóng đại trong trường hợp đó. A. l = 30cm; k = 2. B. l = 10cm; k = 0,5. C. l = 10cm; k = 2. D. l = 30cm; k = - 0,5. Rỏ ràng đây thuộc dạng là câu cực khó. Nếu chưa giải hoặc giải rồi mà chưa rút ra được công thức riêng thì có thể nói là bó tay.com vì giải bài này bài bản để tính ra kết quả cuối cùng không dưới 10 phút. Tuy nhiên từ câu cực khó trở thành là câu dễ nếu đã giải bài tập tự luận dạng này và rút ra được (hệ vô tiêu) l = f1 + f2 và k = - . 3. Trong phòng thi. Phiếu trả lời tắc nghiệm chính là “bài làm” của thí sinh. Thí sinh phải ghi đầy đủ các mục theo qui định bằng mực khác màu đỏ. Phải tô đúng số báo danh của mình theo qui định. Để “làm bài” thí sinh phải đem vào phòng thi bút chì đen (loại mềm 2B, …, 6B), cục tẩy và dụng cụ để gọt bút chì. Nên đem vài cây bút chì đã gọt sẵn để “phòng hờ bất trắc” khi làm bài hoặc “ra tay cứu độ” cho “bằng hữu” (điều này không vi phạm nội qui trường đấu). Không nên gọt bút chì quá nhọn để việc tô đáp án nhanh hơn, tránh làm rách phiếu trả lời. Nên dùng một cục tẩy rời thay vì dùng tẩy ở đuôi bút chì để tiết kiệm thời gian. 4. Khi nhận được đề thi phải kiểm tra xem đề thì có đủ số lượng câu như yêu cầu không, chữ có bị mờ, mất nét và mã đề thi ở các trang có giống nhau hay không. Phải tô mã đề thi đúng theo qui định. Nếu không tô hoặc tô sai thì xem như “vứt đi” vì “máy” chấm chứ không phải như thầy cô chấm bài kiểm tra mà đi năn nĩ rằng “em quên” kính mong thầy cô “thông cảm”. “Máy” sẽ “thông cảm” cho em vào “kì thi sau” !!!. 5. Khi làm bài nên cẩn thận tô kín câu trả lời đúng, không tô nữa vời hoặc gạch chéo vào ô lựa chọn. Nếu muốn sửa lại thì phải tẩy sạch lựa chọn cũ, tô lại lựa chọn mới. Trong một câu mà có hai lựa chọn là phạm qui, “máy” sẽ loại không chấm câu này. 6. Thời gian làm bài với đề thi 40 câu thường là 60 phút, đề thi 50 câu thường là 90 phút. Như vậy khoảng thời gian làm bài dành cho một câu trung bình chưa tới 2 phút. Trong quá trình làm bài, nếu đọc một câu nào đó hơn 2 lần mà chưa trả lời được thì thì có thể dùng phương pháp loại trừ hoặc phỏng đoán để chọn lấy một câu trả lời và nên ghi chú lại để sau này quay trở lại nếu còn thời gian. + Phỏng đoán là dựa vào kiến thức của mình mà phân tích, tổng hợp, phán đoán để lựa chọn câu đúng. Ví dụ: Có thể làm cho một khối lượng chất phóng xạ biến đổi thành chất khác nhanh hơn bằng cách A. đưa khối chất phóng xạ đó vào từ trường mạnh. B. đưa khối chất phóng xạ đó vào điện trường mạnh. C. nung nóng khối chất phóng xạ đó. D. hiện nay chưa có cách nào để thực hiện điều đó. Ta thấy khối lượng chất phóng xạ biến đổi thành chất khác nhanh hay chậm phụ thuộc vào chu kì bán rã T mà lâu nay chưa thấy có trường hợp nào nói đến việc thay đổi T cả nên phương án lựa chọn phải là D. + Loại trừ là phân tích, suy luận, loại các câu sai, còn lại câu đúng. Ví dụ: Khi đưa một đồng hồ quả lắc xuống một hầm mỏ sâu (nhiệt độ thay đổi không đáng kể so với trên mặt đất) thì so với khi để trên mặt đất đồng hồ: A. chạy chậm hơn. B. chạy nhanh hơn. C. vẫn chạy đúng. D. chưa kết luận được. Ta thấy đồng hồ quả lắc chạy nhanh hay chậm tùy thuộc vào chu kì dao động của con lắc đơn T = 2p. Khi đưa xuống hầm mỏ sâu thì g thay đổi nên T thay đổi, vậy là loại trừ được hai phương án C và D. Càng lên cao thì gia tốc rơi tự do g càng giảm nên T tăng, T tăng thì đồng hồ chạy chậm hơn, ở đây là xuống sâu hơn (ngược với lên cao hơn) nên loại trừ luôn phương án A. 7. Không nên nháp lên đề thi (nháp lên phiếu trả lời lại càng không được vì phạm qui). Đừng quên tô hoặc tô nhầm vào phiếu trả lời trắc nghiệm. Làm đến câu nào thì dùng bút chì tô đúng vào câu đó trên phiếu trả lời trắc nghiệm, không đánh dấu vào đề thi hoặc ghi ra ngoài nháp rồi tô sau vì sẽ mất thời gian và có thể bị nhầm lẫn. 8. Phải xem số liệu tính toán được có phù hợp với những kiến thức đã biết không. Chẳng hạn bước sóng của ánh sáng tìm được trong các thí nghiệm về giao thoa là ánh sáng nhìn thấy (0,76mm ³ l ³ 0,40mm). Khi tính bước sóng của ánh sáng dùng trong thí nghiệm giao thoa mà vượt ra ngoài giới hạn này thì cần xem lại cách bấm máy tính. Việc bấm máy tính cũng rất dễ nhầm lẫn vì vậy khi bấm xong nên ghi kết quả ra giấy nháp, bấm lại một lần nữa rồi so sánh cho “chắc ăn”. 9. Không nên dừng lại quá lâu trước một câu trắc nghiệm nào đó. Nếu không làm được câu đó thì thì nên tạm thời bỏ qua để làm câu khác; cuối giờ có thể quay trở lại để làm câu đã bỏ qua nếu còn thời gian. Nếu cuối cùng không làm được một số câu nào đó thì cũng đừng bỏ trống những câu này mà hãy tô chọn một lựa chọn cho mỗi câu, dù sao cũng vẫn còn 25% “ân huệ” đừng bỏ đi “uổng lắm”. 10. Một điều cần lưu ý nữa là trong các đề thi tuyển sinh có phần chung cho tất cả các thí sinh phần riêng của từng ban. Ở phần riêng thí sinh chỉ được chọn một phần để làm, tuyệt đối không được làm cả hai phần vì như thế là phạm qui (có thể bị điểm 0 cho toàn bài). Đừng thấy thừa thời gian mà thử sức làm thêm phần không phải dành cho mình, coi chừng “rớt đài” “oan mạng”. Trên đây là một số kinh nghiệm đơn sơ đưa ra để quí đồng nghiệp và các em học sinh tham khảo. Hi vọng rằng mấy “chiêu thức” “cỏn con” này có thể giúp ích được phần nào đó cho các thí sinh khi bước vào phòng thi. Chúc may mắn. Dương Văn Đổng P. HT trường THPT Bùi Thị Xuân, Phan Thiết, Bình Thuận

File đính kèm:

  • docKinh nghiem hoc va lam bai thi trac nghiem.doc