Một số biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo vệ sức khỏe cho trẻ trong trường Mầm non Quế Nham
Bạn đang xem trước 20 trang mẫu tài liệu Một số biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo vệ sức khỏe cho trẻ trong trường Mầm non Quế Nham, để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
MỤC LỤC
Phần Nội dung Trang
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 3
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 3
ĐỐI TƯỢNG PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1. Đối tượng 3
III 2. Phạm vi 4
3. Thời gian 4
IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1. Cơ sở lý luận 4-5
2. Cơ sở thực tiễn 5
3. Biện pháp
3.1.Biện pháp 1: Xây dựng kế hoạch và chuẩn bị tốt các điều
kiện chăm sóc, nuôi dưỡng và bảo vệ sức khỏe trẻ 5-7
3.2.Biện pháp 2: Nâng cao nhận thức và bồi dưỡng cho cán
bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và phụ huynh về CSND và bảo
V vệ sức khỏe trẻ 7-9
3.3 Biện pháp 3: Chỉ đạo nâng cao chất lượng bữa ăn cho
trẻ tại trường 9-10
3.4. Biện pháp 4: Đổi mới hình thức tổ chức bữa ăn, đa dạng
hình thức tổ chức bữa ăn cho trẻ tại trường 10-12
3.5. Biện pháp 5: Chỉ đạo công tác vệ sinh ATTP trong công
tác bán trú 12-16
3.6. Biện pháp 6: Chỉ đạo tăng cường vệ sinh cá nhân cho trẻ 16-17
3.7. Biện pháp 7: Quản lý tốt quỹ tiền ăn của trẻ đảm
bảo chế độ dinh dưỡng 17-18
3.8. Biện pháp 8: Tăng cường kiểm tra công tác CSND trẻ
trong nhà trường bằng nhiều hình thức khác nhau. 18-19
3.9. Biện pháp 9: Chỉ đạo công tác phòng chống dịch bệnh
covit 19 và dịch bệnh khác 19-21
3.10. Biện pháp 10: Chỉ đạo xây dựng môi trường giáo dục an toàn 21-22
3.11. Biện pháp 11: Quản lý theo dõi biểu đồ tăng trưởng, tổ
chức khám sức khỏe định kì và tiêm phòng cho trẻ 22
3.12. Biện pháp 12: Công tác tuyên truyền, phối kết hợp với
các bậc cha mẹ 22-25
KẾT QUẢ ỨNG DỤNG CỦA ĐỀ TÀI
VI 1. Kết quả 25-26
2. Ứng dụng 26
KHUYẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 26
VII 1. Khuyến nghị 26
2. Kết luận 27
TÀI LIỆU THAM KHẢO 2
STT Tài liệu tham khảo Tác giả - Nhà
xuất bản
1 Bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi Bộ GD &ĐT
2 Tạp chí giáo dục Mầm non Bộ GD &ĐT
3 Chương trình giáo dục mầm non Bộ GD &ĐT
4 Hướng dẫn tổ chức thực hiện chương trình 5-6 tuổi Bộ GD &ĐT
5 Tài liệu bồi dưỡng cán bộ quản lí và giáo viên Mầm non Sở GD & ĐT
6 Tâm lí học trẻ em, giáo dục học trẻ em 2004 Bộ GD& ĐT
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 3
Sức khoẻ cho trẻ là một yếu tố quan trọng của giáo dục phát triển toàn diện,
có mối quan hệ mật thiết với giáo dục đạo đức, thẩm mỹ và lao động. Sự phát triển
khoẻ mạnh của trẻ mầm non càng có ý ngĩa quan trọng hơn bởi cơ thể trẻ hình
thành nhanh, bộ máy hô hấp đang hoàn thiện, cơ thể trẻ còn non yếu dễ đẽ bị phát
triển lệnh lạc, mất cân đối nếu không được chăm sóc giáo dục đúng đắn thì có thể
gây nên những thiếu sót trong sự phát triển cơ thể trẻ mà không thể khắc phục
được. Chăm sóc nuôi dưỡng và bảo vệ sức khoẻ được ví như cái nền của căn nhà
sức khỏe, ăn uống tốt, đảm bảo vệ sinh ATTP sẽ giúp cơ thể phát triển nhanh, nâng
cao sức khỏe cả về thể chất lẫn tinh thần, giúp trẻ phòng tránh được nhiều bệnh.
Nhất là trẻ lứa tuổi Mầm non đang hình thành và phát triển, cơ thể trẻ còn non nớt,
chính vì vầy mà việc đảm bảo dinh dưỡng VSATTP là vô cùng quan trọng và cần
thiết. Vì vậy vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm giữ vị trí quan trọng đối với sức
khoẻ trẻ thơ nó góp phần nâng cao sức học tập, lao động của trẻ trong xã hội ngày
càng phát triển hiện nay. Là một hiệu trưởng nhà trường tôi luôn trăn trở lo lắng
làm thế nào để giúp trẻ có được bữa ăn tốt, có sức khoẻ phát triển cân đối phù hợp
với lứa tuổi đem lại niềm tin cho phụ huynh và góp phần giáo dục tốt trong nhà
trường và xã hội, chính vì vậy tôi đã lựa chọn đề tài “Một số biện pháp chỉ đạo
nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo vệ sức khỏe cho trẻ trong
trường Mầm non Quế Nham” làm đề tài sáng kiến kinh nghiệm năm học 2021-
2022 này.
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm cho CBQL và CBGV, cha mẹ học
sinh về công tác đảm bảo chăm sóc nuôi dưỡng trẻ, nhằm đảm bảo cho trẻ có 1
sức khoẻ tốt
Xác định rõ hơn về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc "Chỉ đạo thực hiện có
hiệu quả việc nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ trong trường mầm
non" từ đó đầu tư nghiên cứu tìm nhiều giải pháp để thực hiện có hiệu quả đề tài
đặt ra.
Nâng cao được chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo vệ sức khỏe trong
trường mầm non, tạo nên người cán bộ quản lý phải có sự năng động, sáng tạo, có
trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, có phẩm chất đạo đức lối sống, chủ động trong
công tác chỉ đạo toàn diện trên mọi lĩnh vực.
Thực hiện xây dựng kế hoạch một cách khoa học và chỉ đạo thực hiện
nghiêm túc triệt để kế hoạch đề ra.
Quan tâm công tác bồi dưỡng cho cán bộ giáo viên, nhân viên nuôi dưỡng,
nhân viên y tế những kiến thức chuyên ngành y tế, những kiến thức cơ bản về
chăm sóc sức khỏe, bồi dưỡng cách chăm sóc nuôi dưỡng trẻ một cách khoa
học cho nhân viên nuôi dưỡng và giáo viên.
Thực hiện tốt công tác tuyên truyền, công phối kết hợp với các tổ chức xã hội,
các đoàn thể ở địa phương được trú trọng thường xuyên liên tục.
III. ĐỐI TƯỢNG PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1. Đối tượng:
- Tìm hiểu thực trạng và tìm ra giải pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng chăm
sóc, nuôi dưỡng, bảo vệ sức khỏe trẻ trong trường Mầm non Quế Nham.
2. Phạm vi: 4
- Áp dụng vào trong công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ tại trường Mầm non
Quế Nham.
3. Thời gian:
- Từ tháng 8 năm 2021 đến tháng 5 năm 2022.
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Đây là đề tài mang tính ứng dụng và thực tiễn cao, vì vậy cần phải nghiên cứu
và lựa chọn những phương pháp hữu hiệu nhất để giải quyết được mục đích của đề
tài, trong khi nghiên cứu và thực hiện đề tài tôi đã sử dụng những phương pháp
sau:
1. Phương pháp học tập nghiên cứu tài liệu
2. Phương pháp điều tra khảo sát thực tế
3. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
5. Phương pháp tuyên truyền
VI. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1. Cơ sở lý luận
Mục tiêu giáo dục Mầm non là hình thành cho trẻ những yếu tố nhân cách đầu
tiên của con người, con người phát triển toàn diện về 5 mặt: Nhận thức, thể chất,
ngôn ngữ, tình cảm - xã hội, thẩm mỹ. Để đạt được mục tiêu giúp trẻ phát triển
toàn diện thì ta cần phải kết hợp hài hoà giữa nuôi dưỡng chăm sóc sức khoẻ và
giáo dục đó là điều tất yếu, như Bác kính yêu của chúng ta nói
“ Trẻ em như búp trên cành
Biết ăn biết ngủ biết học hành là ngoan”
Như chúng ta đã biết dinh dưỡng là nhu cầu sống của mỗi con người, là thức
ăn mà chúng ta ăn và cách thức cơ thể sử dụng chúng, con người cần phải ăn thức
ăn để sống, có sức khỏe, có năng lượng để chơi, làm việc và lớn lên, nhất là ở lứa
tuổi mầm non. Trẻ em cần dinh dưỡng để phát triển về thể lực và trí tuệ. Trẻ em
nếu được chăm sóc nuôi dưỡng tốt sẽ mau lớn, khỏe mạnh, thông minh và học
giỏi.
Thật đúng vậy trong các trường mầm non vấn đề chăm sóc sức khỏe cho trẻ
có ý nghĩa rất quan trọng, bởi vì trẻ được ăn uống khoa học, đảm bảo nhu cầu dinh
dưỡng, đảm bảo vệ sinh, đặc biệt là vệ sinh an toàn thực phẩm sẽ giúp cho cơ thể
trẻ phát triển cân đối, hài hòa cả về thể chất và trí tuệ. Vì vậy việc đảm bảo dinh
dưỡng trong trường mầm non là nhiệm vụ vô cùng quan trọng nó quyết định đến
sự tồn tại của cơ thể con người.
Ngày nay cùng với sự phát triển chung của xã hội, mỗi gia đình đều có cuộc
sống đầy đủ, sung túc hơn, trình độ dân trí cũng ngày đựơc nâng cao. Chính vì vậy
việc chăm sóc nuôi dưỡng trẻ cũng được gia đình và xã hội đặc biệt quan tâm.
Vậy quan tâm như thế nào là đúng mực để cơ thể trẻ khoẻ mạnh, phát triển
cân đối thì trước tiên ta phải có một chế độ ăn uống hợp lý, khoa học nhằm giúp trẻ
ăn uống ngon miệng nhưng lại phải luôn đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.
Trong những năm gần đây hoạt động chăm sóc nuôi dưỡng, bảo vệ sức khỏe
trẻ trường mầm non đã nhận được nhiều sự quan tâm của gia đình, xã hội. Nhiều
phụ huynh khi đưa con đến trường còn vô cùng lo lắng, không biết các cô giáo
mầm non có chăm sóc con mình được chu đáo được hay không. Đặc biệt là với các
bé biếng ăn các bậc cha mẹ không tránh khỏi những băn khoăn trăn trở vì trong 5
thực tế hiện nay ở một số trường mầm non vẫn có tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng khá cao
do bữa ăn các cháu chưa đảm bảo dinh dưỡng và khẩu phần theo yêu cầu, hình
thức tổ chức bữa ăn còn đơn điệu, đồng thời đội ngũ quản lý - giáo viên còn hạn
chế về kiến thức, kỹ năng thực hành chăm sóc - nuôi dưỡng trẻ, chưa linh họat,
sáng tạo trong việc xây dựng khẩu phần thực đơn phù hợp với tình hình thực tế
chưa phù hợp với trẻ, bên cạnh đó công tác truyền thông dinh dưỡng chưa thực sự
phong phú. Để có một thế hệ trẻ có đầy đủ đức tài và thể lực đáp ứng yêu cầu thời
đại Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá thì chúng ta phải thực sự quan tâm chăm sóc,
nuôi dạy trẻ tốt giúp trẻ phát triển một cách toàn diện về thể chất cũng như tinh
thần là một yêu cầu vô cùng cần thiết.
2. Cơ sở thực tiễn
2.1 Thuận lợi:
Bản thân có kiến thức cơ bản về chăm sóc nuôi dưỡng
Bếp ăn được xây dựng theo hệ thống bếp 1 chiều, có đầy đủ các trang thiết bị
phục vụ cho việc chăm sóc nuôi dưỡng trẻ như tủ cơm ga, tủ sấy bát, may say thịt,
máy lọc nước...
100% trẻ được ăn bán trú tại trường
Đa số các bậc phụ huynh quan tâm đến chế độ dinh dưỡng và công tác
VSATTP của trẻ.
100% nhân viên nuôi dưỡng có trình độ chuyên môn nuôi dưỡng trẻ, được bồi
dưỡng về công tác VSATTP, được cấp giấy chứng nhận và chứng chỉ nuôi dưỡng
2.2 Khó khăn:
100% nhân viên nuôi dưỡng đều là hợp đồng ngắn hạn
Một số trẻ mới đến trường chưa có nề nếp thói quen vệ sinh
Đồ dùng trang thiết bị hiện đại để phục vụ cho việc chăm sóc nuôi dưỡng trẻ
chưa đủ.
Một số phụ huynh, giáo viên nhận thức hạn chế nên chưa quan tâm đúng
mức về sức khỏe, chế độ dinh dưỡng của trẻ.
Tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng ở thể thấp còi còn cao, thể nhẹ cân và thể béo phì
ngày càng tăng, trẻ mắc các bệnh viêm nhiễm đường hô hấp, bệnh về mắt, bệnh
răng miệng... khi mới vào trường còn cao.
3. Các biện pháp thực hiện
3.1. Biện pháp 1: Xây dựng kế hoạch và chuẩn bị tốt các điều kiện chăm
sóc, nuôi dưỡng và bảo vệ sức khỏe trẻ
Đây là công tác quan trọng hàng đầu được thực hiện vào đầu năm học, công tác
này là kim chỉ nam cho hoạt động. Xây dựng kế hoạch để có cái nhìn tổng quát, thấy
được sự phối hợp giữa các bộ phận với nhau và đánh giá năng lực của mỗi cán bộ giáo
viên nhân viên trong quá trình thực hiện.Việc lập kế hoạch sẽ giúp cho hiệu trưởng chủ
động trong đầu tư kinh phí và quản lý chất lượng, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, nhân
viên. Huy động sự tham gia của cha mẹ trẻ và cộng đồng trong việc xây dựng môi
trường và tổ chức hoạt động chăm sóc nuôi dưỡng cho trẻ trong nhà trường.
Ngay từ đầu năm học nhà trường chỉ đạo xây dựng kế hoạch chăm sóc nuôi
dưỡng trong nhà trường.
Nhà trường đã thành lập BCĐ, ra các Quyết định để triển khai kế hoạch 6
Chỉ đạo ký hợp đồng và làm cam kết cung cấp thực phẩm sạch cho nhà
trường: BGH đã mời những nhà cung cấp thực phẩm cho nhà trường đến tại văn
phòng để ký hợp đồng và cam kết cung cấp thực phẩm cho bếp ăn đảm bảo tính
pháp lý cao.
Bồi dưỡng kiến thức chuyên môn cho giáo viên, đặc biệt là cách tính khẩu
phần ăn trên phần mềm Nutrion. Tham mưu cho GV, NV tham gia học các lớp tập
huấn VSATTP. Tham mưu khám sức khoẻ định kỳ cho CBQL và nhân viên nuôi
dưỡng.
Đầu tư đồ dùng phục vụ bán trú hiện đại, an toàn, sử dụng hiệu quả. Lắp mới
máy lọc nước công suất lớn phục vụ cho công tác bán trú tại trường; thay mới toàn
bộ giá úp cốc inox mới 17 cái; mua mơi 450 chiếc cốc inox loại đẹp; mua mới 17
giá phơi khăn mặt, tủ sấy bát; bổ sung tủ các đồ dùng khăn, bát, thìa ca cốc phục
vụ cho công tác chăm sóc trẻ tại trường cho các lớp
Đồ dùng bán trú được trang bị mới từ đầu năm học
Bổ sung thêm một số trang thiết bị phòng bệnh cho phòng y tế, các dụng cụ
vệ sinh cá nhân trẻ, vệ sinh môi trường tu bổ hệ thống cấp thoát nước, hệ thống
nhà vệ sinh đảm bảo an toàn 7
Với sự đầu tư cơ sở vật chất đã tạo điều kiện cho công tác chăm sóc nuôi
dưỡng trong trường đạt hiệu quả cao. Cán bộ, giáo viên và nhân viên rất yên tâm
khi được làm việc trong điều kiện trang thiết bị hiện đại, đầy đủ.
Tạo điều kiện cho cán bộ, giáo viên, nhân viên tham gia học tập bồi dưỡng
chuyên môn nghiệp vụ nhất là nhân viên nuôi dưỡng.
Ngoài kế hoạch chung, hướng dẫn, chỉ đạo giáo viên, nhân viên nuôi dưỡng, y
tế còn lên kế hoạch cho từng tuần cụ thể. Từng ngày trong tuần thực hiện công việc
gì nêu ra cho rõ ràng. Sau khi lên được kế hoạch chi tiết cụ thể nhà trường chỉ đạo
tổ chức thực hiện. Trong quá trình thực hiện đã bám sát theo chỉ đạo của Phòng
giáo dục, để kịp thời bổ sung vào kế hoạch thực hiện cũng như có được sự chủ
động để phối hợp với thực hiện công tác CSND bảo vệ sức khỏe trẻ.
3.2. Biện pháp 2: Nâng cao nhận thức và bồi dưỡng cho cán bộ quản lý,
giáo viên, nhân viên và phụ huynh về CSND và bảo vệ sức khỏe trẻ
Bằng nhiều hình thức và biện pháp, trong năm học đã giúp cho CBGV, NV
nâng cao nhận thức và năng lực của người cán bộ quản lý, giáo viên mầm non
trong việc quy hoạch, thiết kế xây dựng triển khai thực hiện công tác chăm sóc
nuôi dưỡng phù hợp với điều kiện cụ thể của nhà trường, lớp, địa phương.
Đẩy mạnh xây dựng và tổ chức hoạt động chăm sóc nuôi dưỡng góp phần
nâng cao chất lượng thực hiện chương trình giáo dục mầm non. Huy động sự tham
gia của cha mẹ trẻ và cộng đồng trong việc chăm sóc nuôi dưỡng trẻ trong nhà
trường.Tuyên truyền, phổ biến nâng cao nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên
về công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ tại nhà trường. Chế độ sinh hoạt của trẻ được
xây dựng trên cơ sở đặc điểm tâm sinh lý của trẻ ở từng độ tuổi và phù hợp với
điều kiện hoàn cảnh thực tế của trường.
Nghiêm túc thực hiện chế độ sinh hoạt và thỏa mãn một cách hợp lý các nhu
cầu ăn, ngủ, nghỉ ngơi, vui chơi, học tập giúp trẻ phát triển hài hòa, cân đối về thể
chất và tinh thần, hình thành ở trẻ nề nếp, thói quen tốt, kĩ năng thực hành cuộc
sống trong mọi hoạt động. Đảm bảo hài hòa giữa nuôi dưỡng, chăm sóc, GD, phù
hợp với sự phát triển tâm sinh lý của trẻ, giúp trẻ phát triển cân đối, khỏe mạnh
nhanh nhẹn”.
Xây dựng môi trường giáo dục, khung cảnh sư phạm nhà trường luôn xanh –
an toàn- thân thiện, cây xanh bóng mát, vườn cây ăn quả, vườn rau. Khu vui chơi,
khu vận động, phòng thể chất, các phòng chức năng được sử dụng tập luyện, trải
nghiệm phù hợp theo điều kiện của nhà trường.
Nhận thức đúng nhiệm vụ chăm sóc nuôi dưỡng trẻ trong trường mầm non là
phần quan trọng quyết định đến chất lượng giáo dục mầm non của nhà trường, nắm
rõ được xu thế phát triển yêu cầu của xã hội, của địa phương đối với sự phát triển
thể chất trong giai đoạn trẻ từ 0 đến 6 tuổi. Từ đó nâng cao trách nhiệm trong việc
quản lý chuyên môn của giáo viên nhằm đạt tới chất lượng và hiệu quả. Phải nhận
thức được sứ mệnh, uy tín của nhà trường đối với xã hội là do đội ngũ giáo viên,
nhân viên quyết định. Vì thế, xây dựng tập thể cán bộ, giáo viên, nhân viên vững
mạnh về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ là mục tiêu hàng đầu trong công tác quản
lý.
CBQL nhà trường tự bồi dưỡng để nâng tư duy, trình độ, thói quen, kinh
nghiệm thực tế lên trình độ tư duy lý luận, tư duy khoa học, từ đó có khả năng 8
nhạy bén, linh hoạt, tạo uy tín trong phong cách quản lý. Nâng cao ý thức trách
nhiệm đối với mối quan hệ trong công việc, luôn tìm cách thấu hiểu giáo viên để
đưa ra quyết định quản lý cho phù hợp. Đưa trách nhiệm đào tạo, bồi dưỡng đội
ngũ nhân viên vào tiêu chí đánh giá CBQL.
Tuyên truyền, phổ biến các kinh nghiệm chăm sóc nuôi dưỡng, bảo vệ sức
khỏe trẻ:
+ Tuyên truyền về ý nghĩa, tầm quan trọng của hoạt động chăm sóc nuôi
dưỡng trẻ và tổ chức các hoạt động phát triển thể chất cho trẻ trong nhà trường cho
cán bộ, giáo viên, nhân viên.
+ Triển khai và thực hiện kế hoạch hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho cán
bộ, giáo viên, nhân viên về hoạt động chăm sóc nuôi dưỡng trẻ và tổ chức các hoạt
động phát triển thể chất cho trẻ trong nhà trường.
Nâng cao trình độ cho giáo viên, cô nuôi trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng.
+ Bồi dưỡng cô làm ở tổ nuôi dưỡng có chuyên môn nghiệp vụ mầm non,
phải có kỹ năng chế biến các món ăn cho trẻ mầm non thì khi chế biến các món ăn
cho trẻ, cô giáo mới thực hiện nghiêm túc thực đơn đã đề ra. Đảm bảo cho trẻ
thường xuyên được thay đổi món ăn giúp trẻ ăn ngon miệng.
+ Bồi dưỡng cô nuôi biết tính khẩu phần ăn cho trẻ để biết được lượng KCal
cung cấp cho trẻ trong ngày đạt bao nhiêu (%) so với nhu cầu cần đạt KCal do các
chất P, L, G cung cấp có được cân đối , hợp lý hay không? Vì khẩu phần ăn của
trẻ cân đối, hợp lý sẽ giúp cho quá trình tiêu hóa, vận chuyển, trao đổi các chất
được tốt hơn.
Một số hình ảnh công tác bồi dưỡng kiến thức về CSND và bảo vệ sức
khỏe trẻ cho CBQL, GV, NVND
+ Cô nuôi nắm vững việc cần thiết đảm bảo khoảng cách giữa các bữa ăn
của trẻ trong ngày sao cho 2 bữa ăn của trẻ không quá gần nhau, kịp thời bổ sung 9
năng lượng cho cơ thể trẻ không để trẻ bị đói mới cho ăn hoặc vẫn còn no lại cho
ăn tiếp gây lên sự chán ăn ở trẻ
+ Đảm bảo tốt chế độ vệ sinh an toàn thực phẩm, biết cách lựa chọn thực
phẩm tươi ngon, không bị dập nát ôi thiu, kém chất lượng. Biết cách thay thế
thực phẩm theo đúng nhóm, đúng định lượng, phù hợp với thực phẩm sẵn có
của địa phương.
3.3. Biện pháp 3: Chỉ đạo nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ tại
trường
Khi xây dựng kế hoạch yêu cầu đặt ra trong việc tổ chức bữa ăn cho trẻ
cũng được cụ thể:
Chuẩn bị bữa ăn phải đa dạng, thay đổi, hỗn hợp nhiều loại thực phẩm:
Trong mỗi bữa ăn của trẻ yêu cầu phải có đủ 4 nhóm thực phẩm, các loại thức
ăn trong mỗi nhóm cũng phải thay đổi từng bữa, từng ngày, từng món ăn cũng cần
hỗn hợp nhiều loại thực phẩm: (Đạm "P", Béo "L", Bột đường "G", VTM và chất
khoáng) vì mỗi thực phẩm cung cấp một số chất dinh dưỡng, nếu hỗn hợp nhiều
loại thức ăn, ta có thêm nhiều chất dinh dưỡng và các chất bổ sung cho nhau ta sẽ
có một bữa ăn cân đối, đủ chất, giá trị sử dụng sẽ tăng lên.
Bữa ăn phải cân đối giữa năng lượng ăn vào và năng lượng tiêu hao: Một khẩu
phần ăn cân đối sẽ giúp cho cơ thể có đủ năng lượng và các chất dinh dưỡng cần
thiết cho sự phát triển, duy trì sự sống và làm việc, vui chơi giải trí. Nếu ăn nhiều
mà không hoạt động dẫn đến thừa năng lượng thì sẽ gây béo phì, nếu để trẻ đói, ăn
không đủ chất, đủ lượng, trẻ sẽ mệt mỏi, kém hoạt động và dẫn đến bị suy dinh
dưỡng.
Bữa ăn phải điều độ theo yêu cầu dinh dưỡng nếu ăn uống không có điều độ,
không hợp lý sẽ có những ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe, muốn vậy cần phải :
- Xây dựng thực đơn theo mùa, theo tuần.
- Tính khẩu phần ăn hàng ngày.
- Đảm bảo khoảng cách giữa các bữa ăn.
- Thực hiện tốt chế độ vệ sinh an toàn thực phẩm.
- Xây dựng khẩu phần hợp lý.
Để xây dựng khẩu phần ăn hợp lý cần đảm bảo tiêu chuẩn theo quy định,
đồng thời cần phải chú ý:
+ Khẩu phần ăn phải đảm bảo đủ năng lượng.
+ Khẩu phần phải đủ chất dinh dưỡng cần thiết.
+ Khẩu phần phải cân đối về tỷ lệ các chất dinh dưỡng .
Xây dựng thực đơn, tính khẩu phần ăn trong công văn số 418/GD&ĐT ngày
24/11/2020 V/v nâng cao chất lượng tổ chức và quản lý ăn bán trú trong các cơ sở
giáo dục MN đã quy định cụ thể:
* Nguyên tắc xây dựng thực đơn:
- Thực đơn được xây dựng cho từng chế độ ăn riêng biệt (cháo, cơm
thường);
- Xây dựng thực đơn theo tuần, theo mùa và phù hợp điều kiện địa phương;
- Thực đơn trong 01 tuần cần có sự thay đổi món ăn, thay đổi cách chế biến,
thay đổi thực phẩm. Khi thay đổi thực phẩm cần đảm bảo thay thế các thực phẩm
cùng nhóm và đảm bảo giá trị dinh dưỡng tương đương; không sử dụng thực phẩm 10
đóng hộp (thịt hộp, cá hộp, pate đóng hộp ), hạn chế tối đa các thực phẩm chế
biến sẵn (giò, chả );
- Món ăn cần thay đổi và phù hợp với từng mùa (mùa hè và mùa đông);
- Xây dựng thực đơn cho bữa chính và bữa phụ trong 01 ngày cần đảm bảo
tỷ lệ cung cấp năng lượng của mỗi bữa ăn và phù hợp với mức đóng góp của phụ
huynh. Trong 01 ngày nên sử dụng thực phẩm giống nhau cho các chế độ ăn và
cho các bữa ăn để thuận tiện cho việc hợp đồng thực phẩm và chế biến;
- Thực đơn được lưu tại hồ sơ bán trú của nhà trường; công khai trong toàn
trường và đối với phụ huynh (bằng bảng công khai tại vị trí trước cửa bếp).
* Các bước xây dựng thực đơn:
- Xác định số ngày ăn trong tuần và số bữa ăn trong ngày của từng chế độ ăn
(số bữa chính, bữa phụ);
- Chọn thực phẩm giàu đạm (động vật, thực vật) cho các ngày ăn trong tuần;
- - Chọn lương thực cần thiết cho các ngày ăn trong tuần;
- Chọn rau cho từng ngày, theo mùa, theo địa phương;
- Chọn cách chế biến thành món ăn cho từng ngày, từng chế độ ăn (bữa
chính và bữa phụ). Đối với chế độ ăn cơm, bữa chính cần đảm bảo tối thiểu 01
món mặn và 01 món canh; và quả chín; bữa phụ có thể là cháo, mỳ, phở, xôi,
chè và hoa quả tươi, nước hoa quả, sữa đậu nành, sữa bột pha, sữa tươi
- Lập bảng thực đơn theo tuần cho từng chế độ ăn.
* Tính khẩu phần ăn
- Khẩu phần ăn của trẻ được thiết lập từng ngày cho từng chế độ ăn;
- Căn cứ vào độ tuổi của trẻ để xác định nhu cầu năng lượng và các chất
dinh dưỡng độ cần đáp ứng trong ngày theo từng chế độ ăn; thiết lập các dưỡng
chất cần thiết và phân chia khẩu phần thành từng bữa ăn theo tỷ lệ qui định;
- Căn cứ vào số lượng trẻ để xác định lượng lương thực, thực phẩm cần thiết
cho mỗi ngày và cho mỗi bữa ăn.
- Việc tính khẩu phần ăn nhà trường sử dụng phần mềm dinh dưỡng hỗ trợ
nhưng cần đảm bảo đáp ứng được yêu cầu của Chương trình GDMN hiện hành
3.4. Biện pháp 4: Đổi mới hình thức tổ chức bữa ăn, đa dạng hình thức tổ
chức bữa ăn cho trẻ tại trường
Việc tổ chức chế biến, tổ chức hoạt động ăn hàng ngày rất quan trọng đối với
trẻ mầm non. Thường trong các bữa ăn của trẻ cô giáo mới chỉ chú ý làm sao cho trẻ
ăn hết xuất chứ chưa chú ý đến việc tổ chức làm sao cho trẻ ăn ngon miệng, làm sao
để trẻ có tâm lý thoải mái hứng thú khi ăn. "Đổi mới tổ chức bữa ăn cho trẻ" là một
trong những nội dung được quan tâm đặc biệt trong năm học 2021-2022, trong
chuyên đề cũng được Sở GD&ĐT Bắc Giang năm học 2019-2020 đã triển khai,
nhấn mạnh tầm quan trọng của nội dung này và hàng năm được củng cố duy trì.Vậy
chúng ta cần tổ chức hoạt động giờ ăn của trẻ như thế nào cho phong phú, đa dạng,
gây hứng thú, hấp dẫn để trẻ được tiếp cận các hình thức tổ chức hoạt động giờ ăn
khác nhau...đồng thời đảm bảo dinh dưỡng cân đối hài hoà giữa chất và lượng. Ngay
từ đầu năm học, sau khi tiếp thu chuyên đề, bản thân tôi đã bắt tay ngay công tác xây
dựng kế hoạch, chuẩn bị các điều kiện và bồi dưỡng, hướng dẫn đội ngũ CBGV, NV
trong trường tổ chức chuyên đề "Đổi mới tổ chức bữa ăn cho trẻ" đây cũng chính là 11
sự thành công trong việc chỉ đạo sát sao, sự sáng tạo, tâm huyết của người quản lý
và toàn thể cán bộ giáo viên, nhân viên nhà trường trong quá trình thực hiện.
Các hình thức được lựa chọn và xây dựng thành thời gian biểu, mỗi tuần trẻ
sẽ được ăn 1 bữa ăn tư chọn, 1 bữa ăn gia đình, còn lại là các bữa ăn theo xuất.
Đối với trẻ 5-6 tuổi, 4-5 tuổi được hướng dẫn tự chọn thức ăn trong nhiều
nhóm thức ăn, đối với trẻ 3-4 tuổi được giáo viên hỗ trợ chọn thức ăn mà trẻ yêu
thích hoặc được chia theo xuất thực đơn khác nhau để trẻ chọn.Yêu cầu đặt ra đối
với các hình thức tổ chức ăn:
* Ăn theo xuất
- Kê bàn để thức ăn, cơm: 2 chiếc phía trên
- Bàn ăn của trẻ: nhóm 4 hoặc 8 trẻ ngồi 1 bàn
- Chuẩn bị cơm, thức ăn đầy đủ.
- Cô chia ăn cho trẻ
- Cô chia ăn và đặt xuất ăn tới bàn trẻ ngồi để trẻ ăn
( Bữa ăn bình thường chia theo suất ăn của từng trẻ)
* Ăn tự chọn
- Bàn của cô: Kê 2 - 3 bàn sát nhau thành dãy ở trung tâm lớp sao cho trẻ dễ
đi lại và dễ lấy đồ ăn.
- Đồ dùng, dụng cụ: Khay/đĩa, bát con, thìa của mỗi trẻ được xếp chồng lên
nhau để trên bàn, bát đựng cơm (3- 5 bát), bát đựng thức ăn (3-5 bát). Cơm và
thức ăn chia ra 3-5 bát, canh chia ra bát nhỏ sao cho mỗi trẻ 1 bát canh và bày
lên bàn.
- Hướng dẫn trẻ cách lấy đồ ăn: Mỗi lượt 3-5 trẻ lên lấy bát, thìa trên bàn của
cô để lấy thức ăn kèm theo 1 bát canh và mang về bàn.
- Khi cả lớp lấy đồ ăn xong, cô giáo cho trẻ mời ăn và bắt đầu ăn.
- Sau khi trẻ ăn hết lần một lại tiếp tục như vậy lên lấy lần hai sao cho trẻ ăn
hết suất của mình.
- Trong quá trình hướng dẫn trẻ lên lấy đồ ăn, cô giáo dạy trẻ biết chờ đến
lượt, không chen lấn, xô đẩy, đùa nghịch khi lấy ăn. Đối với những trẻ béo phì hay
suy dinh dưỡng thì cô giáo nên để ý và định hướng cho trẻ lấy ăn cho phù hợp.
Đây cũng chính là hình thức trẻ thích nhất và mong chờ hàng tuần. 12
Hình ảnh bữa ăn tự chọn của trẻ
* Ăn gia đình
- Bao quát không gian và hỗ trợ trẻ kê bàn ăn cho phù hợp.
- Dụng cụ chia ăn: Muôi canh, muôi cơm; bát tô, đĩa đựng cơm, canh, thức ăn
cho trẻ.
- Cô giáo chia thức ăn theo số suất ở mỗi bàn ăn của trẻ (1 bát canh, 1 bát
cơm, 1 bát thức ăn) và bày lên bàn cho trẻ như ở bữa cơm gia đình.
- Giới thiệu món ăn cho trẻ.
- Hướng dẫn trẻ: Sau khi đồ ăn đã bày trên bàn, cả lớp mời ăn và bắt đầu ăn.
3.5. Biện pháp 5: Chỉ đạo công tác vệ sinh ATTP trong công tác bán trú
* Chế biến đảm bảo VSATTP
Bố trí bếp theo quy định một chiều: Cửa đưa thực phẩm tươi sống - sơ chế
thực phẩm- tinh chế thực phẩm- chia thức ăn chín- cửa vận chuyển thức ăn chín 13
lên các nhóm lớp. Thực hiện nguyên tắc bếp một chiều, hợp vệ sinh nhằm tránh
thực phẩm sống và chín dùng chung một lối đi. Các dụng cụ chế biến sống và chín
phải riêng biệt.
Sắp xếp vị trí các khu vực thuận tiện, gọn gàng và có biển đề rõ ràng nơi tiếp
phẩm và nơi sơ chế khu nấu chín và nơi chia cơm từng lớp, nhà bếp phải có bảng
phân công trong ngày: Người nấu chính, người nấu phụ, người tiếp phẩm, người sơ
chế.
Hình ảnh nhân viên nuôi dưỡng đang chế biến bữa ăn và chia ăn cho trẻ
Bếp ăn có thực đơn theo tuần, bảng định lượng suất ăn hàng ngày và công
khai tài chính, bảng pha sữa thực hiện nghiêm túc việc tính khẩu phần ăn cho trẻ
và vệ sinh nhà bếp theo lịch hàng ngày, tuần, tháng, khi nấu xong phải dọn dẹp,
xếp đồ dùng ngăn nắp đúng nơi quy định. 14
Các bảng biểu bếp bán trú
* Vệ sinh đồ dùng, dụng cụ chế biến, khăn lau các dụng cụ nhà bếp
Đồ dùng dụng cụ phục vụ trong bếp được đầu tư đầy đủ đảm bảo an toàn
thuận tiện sử dụng, hàng năm có bổ sung theo kế hoạch của tổ song việc giữ gìn
bảo quản và vệ sinh được quan tâm hàng đầu. Các dụng cụ chế biến thực phẩm
sống - chín đều có biển hiệu đề rõ ràng tránh nhầm lẫn
Hình ảnh nhân viên nuôi dưỡng đang vệ sịnh các dụng cụ bán trú
Bát ăn và bát và nơi để thức ăn phải thoáng, bát thìa hàng ngày phải được rửa
sạch sấy khô ở tủ và tráng bằng nước đun sôi khi trời nồm, có rổ úp bát, không 15
dùng bát nhựa, các dụng cụ xoong nồi sạch sẽ, rá rổ dao thớt khô ráo được treo và
kê cao thoáng.
Không đựng mắm muối vào đồ có chứa chì, đồng, sắt gây ô nhiễm thực
phẩm, các dụng cụ đều bằng Inox được vệ sinh theo lịch phân công hàng tuần đảm
bảo vệ sinh.
* Đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm bằng nguồn VAC tại chỗ
Việc đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm là mối quan tâm lớn của toàn xã hội
hiện nay. Ngoài những biện pháp quy định trong các chương trình, nhà trường đã
ký hợp đồng cam kết đảm bảo mua thực phẩm sạch đồng thời liên tục kiểm tra các
mẫu thực phẩm theo định kỳ, thường xuyên giám sát kiểm tra gửi mẫu thực phẩm
đi kiểm tra tại trung tâm y tế huyện, nhờ trung tâm y tế huyện mang máy về kiểm
tra thực phẩm.
Thực hiện kí hợp đồng thực phẩm sạch với các nhà cung cấp tin cậy, có địa
chỉ rõ ràng.
Chế biến đúng quy trình, thực hiện thực đơn của trường. Đảm bảo vệ sinh và
dinh dưỡng cho trẻ.
Bảo đảm thức ăn nước uống cho trẻ an toàn.
Lưu mẫu thức ăn lưu nghiệm đầy đủ, đúng quy định một xuất ăn của các
món ăn trong ngày, kể cả ăn phụ, có nhãn mác ghi ngày giờ rõ ràng (Thức ăn
lưu nghiệm phải để đúng 24 giờ sau mới được huỷ).Việc làm này phòng khi có
xảy ra ngộ độc, bác sĩ tìm nguyên nhân ngộ độc do thức ăn hay lí do khác được
dễ dàng.
Ngoài ra nhà trường còn triển khai phong trào" vườn rau sạch cho bé" tới toàn
thể CBGV, NV trong nhà trường: Cụ thể đã phân các khu vực cho các tỏ, từng
thành viên trong tổ theo kế hoạch của nhà trường nhằm:
+ Góp phần cải thiện nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ từ nguồn rau sạch tại
nhà trường đảm bảo VSATTP.
+ Đảm bảo an toàn tuyệt đối về sức khoẻ cho cán bộ giáo viên và học sinh.
+ Nhằm tạo môi trường hoạt động đa dạng, phong phú giúp trẻ có điều kiện
tiếp xúc với hoạt động trồng trọt, để trẻ nhận thức được lợi ích của việc trồng rau
sạch đối với môi trường sống xung quanh.
+ Xây dựng cảnh quan môi trường sư phạm xanh, sạch, đẹp gắn với phong
trào thi đua xây dựng trường học thân thiện học sinh tích cực.
+ Phát huy tính gương mẫu tinh thần tự giác sáng tạo của CBGV trong việc
chăm sóc nuôi dưỡng trẻ.
+ Giảm tỷ lệ SDD cho trẻ mầm non trong nhà trường
Kết quả trong năm học nhà trường đã thu hoạch được 1508.8 kg = 27.681.000
đ, cải thiện vào bữa ăn cho tr 16
Mô hình vườn rau của bé
3.6. Biện pháp 6: Chỉ đạo tăng cường vệ sinh cá nhân cho trẻ và vệ sinh
môi trường.
Trẻ em là thời kỳ cơ thể đang phát triển, hệ thần kinh chưa hoàn chỉnh sức đề
kháng với bệnh tật nói chung cũng như khả năng thích ứng của da còn yếu nên trẻ
dễ mắc bệnh nhiễm khuẩn cũng như dễ bị ảnh hưởng bởi yếu tố thời tiết và môi
trường. Vì vậy chỉ đạo giáo viên giáo dục trẻ em có thói quen vệ sinh dựa trên sự
hình thành phản xạ có điều kiện, giúp trẻ có được những thói quen tốt có lợi cho
sức khỏe.
* Vệ sinh trẻ: Chỉ đạo tốt công tác vệ sinh cá nhân tạo thói quen cho trẻ,
rửa tay bằng xà phòng cho trẻ trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh. Việc tạo nề
nếp, thói quen cho trẻ tại các lớp đã được thực hiện nghiêm túc hàng ngày với
kế hoạch chỉ đạo hàng tháng, hàng tuần, nhờ đó, các lớp đã vận dụng cụ thể
thời gian, sắp xếp hợp lý tạo cơ hội cho trẻ tham gia các hoạt động nhưng vẫn
đảm bảo vệ sinh cá nhân hợp lý.
* Thường xuyên giữ cho trẻ sạch: Đối với trẻ phải được rửa tay, được chăm
sóc chu đáo về khâu vệ sinh, được sử dụng nước sạch, lau khăn sạch đã được 17
luộc, sấy hấp đảm bảo vệ sinh. Đối với trẻ bé cô giáo là người trực tiếp giúp trẻ
vệ sinh cá nhân.
* Rèn kĩ năng vệ sinh cá nhân: Chỉ đạo các lớp triển khai dạy trẻ các kỹ
năng vệ sinh cá nhân để trẻ có thói quen lau mặt theo quy trình, rửa tay bằng
xà phòng trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh, súc miệng nước muối Từ đó
hình thành ở trẻ thói quen vệ sinh, lao động tự phục vụ: Với trẻ lớn biết lau
bàn ăn, trải khăn bàn, chia bát, chia thìa, phơi khăn Vệ sinh văn minh lịch
sự, biết lấy tay che miệng khi ho, ngáp, hắt hơi. Không ăn quả xanh uống nước
lã
Dạy trẻ biết thu dọn rác sạch sẽ, sau khi làm xong và bỏ rác vào sọt, không
vứt rác bừa bãi. Biết dọn dẹp đồ dùng đồ chơi cẩn thận vào nơi quy định.
Chỉ đạo giáo viên lồng ghép giáo dục vệ sinh môi trường, vệ sinh cá nhân
vào các tiết học và các hoạt động hàng ngày của trẻ, dần dần giúp trẻ hiểu được
cái đẹp, cái sạch của con người, học được những tác phong nếp sống văn minh,
vệ sinh thân thể, vệ sinh ăn uống... Điều này có ý nghĩa quan trọng cho việc
giáo dục thói quen vệ sinh văn minh cho trẻ: Sạch sẽ, trật tự, ngăn nắp để bảo
vệ sức khỏe.
* Vệ sinh môi trường: Rác và thức ăn hàng ngày phải đổ vào đúng nơi quy
định, rác ngày nào phải xử lý ngày đó không để hôm sau mới xử lý gây mất vệ
sinh,giáo dục trẻ biết phân loại rác thải và bỏ vào đúng nơi quy định, rác phải để xa
nơi chế biến, cống rãnh phải được khơi thoáng không ứ đọng
(Ảnh trẻ nhặt rác phân loại rác vệ sinh môi trường)
3.7.Biện pháp 7: Quản lý tốt quỹ tiền ăn của trẻ đảm bảo chế độ
dinh dưỡng 18
Thực hiện tốt việc báo ăn, điểm danh hàng ngày, kế toán đối chiếu số xuất ăn
trên các lớp với số tiền ăn thu được trong ngày.
Quản lý chặt chẽ các khoản thu- chi liên quan đến vấn đề ăn uống của trẻ.
Thực hiện tài chính công khai hàng ngày, có sự thống nhất giữa sổ báo ăn của kế
toán , sổ chợ của tiếp phẩm và sổ tính khẩu phần ăn hàng ngày.
Thanh toán sòng phẳng với các lớp và các phụ huynh theo từng tháng.
Không dùng quỹ tiền ăn của trẻ vào các hoạt động khác hoặc mua sắm những
đồ dùng không phải là lương thực, thực phẩm sử dụng trong các bữa ăn của trẻ.
3.8. Biện pháp 8: Tăng cường kiểm tra, quản lý công tác CSND trẻ trong
nhà trường bằng nhiều hình thức khác nhau.
Có thể nói, kiểm tra, đánh giá là khâu quan trọng trong việc tổ chức thực hiện
chăm sóc nuôi dưỡng trẻ đối với giáo viên nhân viên. Có kiểm tra, đánh giá chính xác
thì mới tìm ra những ưu điểm, tồn tại của giáo viên nhân viên trong việc thực hiện
nhiệm vụ chăm sóc nuôi dưỡng trong trường mầm non.Từ đó góp phần nâng cao chất
lượng chăm sóc nuôi dưỡng trẻ cho đội ngũ nhân viên trong trường.
Kiểm tra kế hoạch chăm sóc nuôi dưỡng trẻ được xây dựng trong kế hoạch
năm học của tổ chuyên môn, từng cá nhân. Kiểm tra việc thực hiện chăm sóc trẻ
thông qua các hoạch động đón, trả trẻ, chăm sóc ăn ngủ, tổ chức các hoạt động
phát triển thể chất thông qua các hoạt động thể dục sáng, hoạt động thể chất, hoạt
động ngoài trời...
Mục đích của việc nâng cao chất lượng nuôi dưỡng cho trẻ là trẻ ăn ngon
miệng ăn hết xuất. Vì thế ngoài việc kiểm tra quy trình chế biến món ăn và chia
định lượng tại bếp ăn, người nấu chính. Việc đi dự giờ ăn tại các lớp được rút kinh
nghiệm từng ngày. Các cháu có ăn hết xuất hay không còn phụ thuộc vào nhiều
yếu tố như: Chất lượng món ăn, tình hình sức khoẻ của trẻ, cách chăm sóc các cháu
ăn của cô giáo.. Từ đó kịp thời điều chỉnh, rút kinh nghiệm..nếu trẻ thích ăn món
nào chỉ đạo tiếp tục chế biến cho trẻ ăn.
Chú ý đến việc thực hiện quy trình tổ chức giờ ăn, cách động viên chăm sóc
các cháu trong khi ăn và các yêu cầu về vệ sinh trong giờ ăn, các cháu suy dinh
dưỡng, lười ăn, béo phì để chỉ đạo giáo viên chăm sóc trẻ kịp thời giúp các cháu ăn
hết xuất.
Qua dự giờ ăn của các lớp, BGH đã kịp thời điều chỉnh những lớp cần bổ
xung thêm người trong giờ ăn như lớp nhà trẻ, mẫu giáo bé và đã phân công hàng
ngày các cô nuôi phụ vào những giờ ăn của trẻ để động viên các cháu tự xúc ăn và
xúc cho các cháu ăn hết xuất.
Nhắc nhở giáo viên các lớp giới thiệu đúng tên món ăn cho trẻ và các chất
dinh dưỡng có trong món ăn đó nhằm tích hợp giáo dục dinh dưỡng trong giờ ăn
giúp kích thích sự thèm ăn của trẻ cũng như giúp trẻ có kiến thức trong ăn uống
hợp lý ngay từ khi còn nhỏ.
Kiểm tra hồ sơ sổ sách nuôi dưỡng: Kiểm tra định kỳ hàng tháng, kiểm
tra báo trước, kiểm tra đột xuất và tập trung kiểm tra bếp ăn 2 lần/1 tuần,
phân lịch kiểm tra các ngày trong tháng không trùng nhau để có thể dự kiểm
tra tất cả các buổi trong tuần với các món khác nhau của cả bữa chính và bữa
phụ. Kiểm tra quy trình giao nhận thực phẩm (Đủ thành phần, chất lượng,
nguồn gốc...) Kiểm tra quy trình bếp 1 chiều, dây chuyền chế biến món ăn là 19
công việc được thực hiện thường xuyên đối với người quản lý. Qua kiểm tra đã
kịp thời đánh giá, rút kinh nghiệm cách chế biến của việc cải tiến chế biến món
ăn ngày một ngon hơn nhằm nâng cao chất lượng chế biến món ăn cho trẻ ở
trường mầm non.
Chỉ đạo xây dựng thực đơn đặc biệt bổ sung các món ăn mới, những món ăn
đươc cái tiến được lựa chọn từ những thực phẩm dễ kiếm tìm và tăng cường sự
xuất hiện của rau củ quả, và những thực phẩm mà có lẽ trong thời buổi bộn bề
công việc này bố mẹ cácc con ít có thời gian nấu cho các con thưởng thức.
Tổ chức họp tổ nuôi theo định kỳ tuần I, tuần III để rút kinh ngiệm và trao đổi
tìm cách cải tiến nâng cao chất lượng chế biến món ăn cho trẻ. Chỉ đạo các đồng
chí tổ nuôi, mỗi đồng chí xây dựng thực đơn 4 tuần của cô và của trẻ không trùng
nhau, sưu tầm sách báo, nghiên cứu cùng nhau trao đổi để cải tiến cách chế biến
món ăn ngày càng tốt hơn.
3.9. Biện pháp 9: Chỉ đạo công tác phòng chống dịch bệnh covit 19 và dịch
bệnh khác
Năm học 2021-2022, dịch bệnh Covid-19 triền miên kéo dài trong cả nước
nói riêng và toàn thể giới nói chung, “ Việc chung tay đẩy lùi dịch bệnh” là yêu
cầu cấp bách đối với toàn dân. Để làm tốt công tác phòng chống dịch bệnh trong
nhà trường, tôi đã xây dựng tổ chức triển khai kế hoạch đến từng CB, GV, NV
trong nhà trường, phân công nhiệm vụ cụ thể cho CB, GV, NV, tổ chức kiểm tra
đánh giá việc thực hiện công tác phòng chống dịch bênh của CBGVNV. Phối hợp
và tham mưu với các cấp chính quyền địa phương, trạm y tế xã, các ban ngành
đoàn thể trong và ngoài nhà trường để thực hiện tốt công tác phòng chống dịch.
Hàng ngày cập nhật thông tin tình hình dịch bệnh qua nắm bắt trao đổi từ phụ
huynh học sinh tại các nhóm zalo của lớp của trường để theo dõi cập nhật tình hình
dịch bệnh trên cơ sở dữ liệu ngành, báo cáo, cập nhật thông tin kịp thời, chính xác
hàng ngày đúng thời gian, để năm bắt cụ thể có kế hoạch tham mưu với địa
phương, trạm y tế về công tác phòng chống dịch. Nhận và thực hiện tốt các công
văn chỉ đạo của cấp trên đưa xuống về dịch covit19 và cả các đợt dịch như: cúm,
sốt xuất huyết, sởi, thủy đậu...
Thường xuyên kiểm tra công tác an toàn phòng dịch bệnh, theo dõi hàng
ngày, báo cáo kết quả kịp thời để có cách xử lý kịp thời. Nhà trường chỉ đạo
GV,NV các lớp thường xuyên vệ sinh lau rửa đồ dùng đồ chơi, tay nắm cửa theo
quy định, không tổ chức phun khử khuẩn trong lớp học. Đặc biệt chú ý khâu xử lí
rác thải, thực hiện đúng quy tắc về vệ sinh cá nhân. Tổ chức các lớp tập huấn công
tác phòng chống dịch bệnh covid-19 cho cán bộ, giáo viên, nhân viên trong nhà
trường, tổ chức tọa đàm phòng dịch...
Phối hợp chặt chẽ với cha mẹ học sinh để cùng thực hiện tốt những nội dung
phòng bệnh ở gia đình góp phần nâng cao hiệu quả những biện pháp đã thực hiện ở
trường.
Chỉ đạo giáo viên lồng ghép giáo dục cho trẻ những hiểu biết tối thiểu về
phòng chống dịch bệnh, trong nhưng ngày nghỉ không thể đến trường , giáo viên
đã làm các vi deo và tìm trong ngân hàng vdeo có nội dung về giáo dục vệ sinh,
giáo dục trẻ công tác phòng dịch hoặc các vi deo về việc hướng dẫn trẻ thực
hiện các nền nếp thói quen trong khi ăn .của ngành gửi về lựa chọn để hướng 20
dẫn cha mẹ và các con tại nhà như: Dạy trẻ cách giữ gìn vệ sinh cá nhân, vệ sinh
thân thể, rửa tay, đeo khẩu trang đúng cách, đánh răng, rửa mặt cách nhận biết
những con côn trùng có hại gây nguy hiểm tới cuộc sống
Gặp gỡ tư vấn cho cha mẹ trẻ về tình hình sức khoẻ của trẻ trong mùa dịch
để tư vấn cho cha mẹ khi mắc bệnh. Trong công tác chuẩn bị cho trẻ đến trường,
nhà trường đã chủ động tích cực chuẩn bị cac điều kiện tốt nhất khi trẻ trở lại
trường học (máy đo thân nhiệt, nước rửa tay, lau sàn, xây dựng các phương án
phòng dịch, luộc ca cốc, khăn mặt )
Tích cực tuyên truyền tới phụ huynh học sinh, cộng đồng, gia đình, cập
nhật thông tin về tình hình dịch bệnh và cách phòng tránh; về công tác chỉ đạo
và kết quả phòng, chống dịch bệnh qua các phương tiện thông tin của nhà
trường (Trang thông tin điện tử, mạng xã hội, bản tin, tại các lớp học...)
Nắm bắt kịp thời các kế hoạch và phương án xử trí các tình huống diễn
biến của dịch bệnh gây ra và có thể xảy ra trên địa bàn và trong nhà trường.
Giáo viên chủ nhiệm thường xuyên (hàng ngày) liên hệ với phụ huynh, học sinh
của lớp để nắm bắt tình hình và theo dõi sức khỏe, tình hình dịch bệnh của địa
phương và của gia đình học sinh nơi cư trú.
Thực hiện nghiêm túc các quy định về VSATTP ( nấu chín kĩ thức ăn, luộc,
sấy bát, thìa, ca cốc, khăn mặt hàng ngày, sử dụng nước ấm cho trẻ, rửa tay
bằng xà phòng, chăm sóc giấc ngủ, bữa ăn theo đúng quy chế CSGD trẻ MN. Vệ
sinh môi trường trong và ngoài nhóm lớp, công tác bảo vệ sức khỏe (mặc ấm,
phòng học thông thoáng ấm áp ) bảo vệ an toàn tính mạng học sinh, thực hiện
đúng chế độ sinh hoạt trong ngày của trẻ, tăng cường biện pháp nâng cao sức
khỏe, sức đề kháng cho trẻ
File đính kèm:
mot_so_bien_phap_chi_dao_nang_cao_chat_luong_cham_soc_nuoi_d.docx



